Thứ hai, ngày 27/05/2019 10:00:01 ĐT:(08) 3932 0692 - 3932 1636 - Fax: (08) 3932 5247 Email: hoiluatgiatvpl@gmail.com

Quyền và nghĩa vụ với con sau ly hôn


Cập nhật: 5h26' ngày 13/05/2019


 Thứ Bảy, 11/5/2019 06:39 GMT+7

(PLVN) - Sau khi ly hôn, người bố/mẹ không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ như thế nào đối với việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự…?... Tư vấn của Luật gia Bùi Đức Độ - Giám đốc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Kiên Giang về vấn đề này.

Quyền và nghĩa vụ với con sau ly hôn
Hình minh họa

Theo quy định tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình (HN&GĐ) năm 2014 thì “sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở”. Khoản 1 Điều 81 quy định: “Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật Dân sự và các luật khác có liên quan”.

Từ những quy định trên, bên cạnh việc pháp luật quy định quyền, nghĩa vụ thăm nom con thì pháp luật còn quy định quyền và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người không trực tiếp nuôi con. Đây là quy định hợp lý, nhằm đảm bảo cho con phát triển một cách tốt nhất khi sống trong một gia đình không được hoàn thiện, thiếu thốn vật chất và tình cảm của cha hoặc mẹ. 

ADVERTISEMENT

Tuy nhiên, trên thực tế khi cha mẹ đã ly hôn, không hiếm trường hợp chỉ vì cái tôi của mình quá lớn, người trực tiếp nuôi con chỉ cho phép người kia thăm nom cho có lệ. Thậm chí, không tạo điều kiện vun đắp, nuôi dưỡng tình cảm mà người trực tiếp nuôi con còn tìm cách chia rẽ tình cảm cha - con/mẹ - con bằng những lời nói, cử chỉ theo kiểu gieo rắc hận thù “mưa dầm thấm đất”. Ngược lại, cũng có những người lợi dụng quyền thăm con một cách bất hợp lý, thái quá, gây xáo trộn cuộc sống của người trực tiếp nuôi con và ảnh hưởng đến tâm sinh lý và sự phát triển bình thường của con như thăm con bất kể ngày hay đêm, khi con đang ngủ, đang học bài…

Vậy nên, quyền thăm nom con phải được hiểu là đặt lợi ích của con lên trên hết, đảm bảo lợi ích (tinh thần) của mình nhưng đừng làm  ảnh hưởng đến lợi ích của người khác, đặt mình vào hoàn cảnh của người khác để xử sự cho phù hợp với chuẩn mực đạo đức gia đình và xã hội.

Về thời gian, địa điểm thăm con do pháp luật chưa quy định cụ thể, nên trong quá trình thực hiện gặp không ít khó khăn, lúng túng. Nếu các bên có thiện chí, sẽ vì quyền lợi của con mà gạt bỏ đi tất cả sự đố kỵ, hẹp hòi, ích kỷ, nhưng ngược lại nếu hai bên không hợp tác thì rất khó giải quyết. Mặt khác, có thể dẫn đến không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên bị người trực tiếp nuôi con từ chối cho thăm con. 

Nhưng phải lưu ý rằng, đây là hai việc khác nhau, nếu trong trường hợp có bản án của Tòa án mà người trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng không thực hiện theo quyết định của bản án thì theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 52 Nghị định 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự thì hành vi “Không thực hiện công việc phải làm, không chấm dứt thực hiện công việc không được làm theo bản án, quyết định” thì bị phạt từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.

Nếu cản trở quyền và nghĩa vụ thăm nom, trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo Điều 53 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 về ngăn cản quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông bà với cháu, giữa cha mẹ với con, giữa vợ và chồng, giữa anh chị em với nhau thì phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đến 300.000 đồng. Ngược lại, người không trực tiếp nuôi con trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có biện pháp buộc họ thực hiện nghĩa vụ đối với con như cưỡng chế, kê biên, xử lý tài sản… theo pháp luật thi hành án. 

Cha, mẹ có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con (Điều 71, Điều 72 Luật HN&GĐ năm 2014). Thế nên, khi chung sống với con hoặc không chung sống với con thì cha, mẹ vẫn có các quyền và nghĩa vụ ngang bằng nhau về nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con. Nhưng cho dù thế nào đi nữa, bậc làm cha, làm mẹ nên gác qua một bên những mâu thuẫn trước, trong và sau ly hôn (nếu có), đặt lợi ích của con lên trên hết thì các bên cũng có thể thỏa hiệp được với nhau về phương thức, thời gian, địa điểm thăm con theo tinh thần điều luật đã ghi nhận.

Bùi Đức Độ