Thứ tư, ngày 19/09/2018 05:32:35 ĐT:(08) 3932 0692 - 3932 1636 - Fax: (08) 3932 5247 Email: hoiluatgiatvpl@gmail.com

Pháp luật về an toàn thực phẩm của Hoa Kỳ Luật An toàn thực phẩm hiện đại (FSMA) Từ ứng phó sang phòng ngừa


Cập nhật: 5h16' ngày 15/05/2018


Được ban hành ngày 4.1.2011, FSMA là đạo luật đầu tiên sửa đổi cơ bản luật về an toàn thực phẩm trong hơn 70 năm. Luật này nhằm mục tiêu tăng cường hệ thống bảo đảm an toàn thực phẩm của Hoa Kỳ bằng việc chuyển hướng tiếp cận của FDA từ ứng phó với các vấn đề về an toàn thực phẩm sau khi chúng đã xảy ra sang chú trọng phòng ngừa, ngăn chặn rủi ro an toàn thực phẩm khi chưa phát sinh.

Trao thêm quyền hạn cho FDA

FSMA chỉ ảnh hưởng đến hoạt động của FDA chứ không tác động đến mảng hoạt động của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ. Theo FSMA, FDA được trao thêm nhiều quyền hạn thực thi và kiểm tra về an toàn thực phẩm nhằm đạt tỷ lệ tuân thủ pháp luật cao hơn, với các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm mang tính phòng ngừa và dựa trên cơ sở phân tích rủi ro. Luật cũng trao cho FDA các công cụ mới rất quan trọng để buộc thực phẩm nhập khẩu phải đáp ứng tiêu chuẩn giống như thực phẩm trong nước, và yêu cầu FDA xây dựng một hệ thống an toàn thực phẩm quốc gia với sự phối hợp chặt chẽ với chính quyền tiểu bang và địa phương.

FSMA có nhiều nội dung mới. Để thi hành luật, cần có một khoảng thời gian chuyển tiếp nhằm chuyển đổi toàn bộ hệ thống an toàn thực phẩm sang định hướng phòng ngừa. Do đó một số nội dung cần có lộ trình và FDA phải ban hành văn bản hướng dẫn. dưới hình thức Bộ quy tắc về an toàn thực phẩm (Food Code) nhằm bảo đảm sức khỏe cộng đồng và cung cấp cho người tiêu dùng thực phẩm an toàn, không pha tạp chất và được trình bày một cách trung thực. Bộ quy tắc này đưa ra các định nghĩa và đặt ra các tiêu chuẩn về quản trị và nhân sự, vận hành chuỗi cung ứng thực phẩm, trang thiết bị và cơ sở vật chất. Bộ quy tắc được cập nhật 2 năm 1 lần và là khuôn mẫu để các cấp chính quyền có thẩm quyền kiểm soát an toàn thực phẩm đặt ra các quy tắc cho ngành hay địa phương mình phù hợp với chính sách, pháp luật an toàn thực phẩm của liên bang.

Phòng ngừa sự cố

Lần đầu tiên, FDA được trao quyền áp đặt các biện pháp kiểm soát mang tính phòng ngừa trên cơ sở khoa học đối với toàn bộ hệ thống cung ứng thực phẩm. Trước hết, kiểm soát phòng ngừa bắt buộc đối với các cơ sở cung ứng thực phẩm. Các cơ sở cung ứng thực phẩm phải lập và thực hiện kế hoạch kiểm soát phòng ngừa bằng văn bản, bao gồm: (1) nhận diện và đánh giá các nguy cơ có thể ảnh hưởng đến an toàn thực phẩm; (2) cụ thể hóa các biện pháp phòng ngừa hoặc kiểm soát sẽ được triển khai để giảm thiểu hoặc ngăn ngừa các nguy cơ đó; (3) làm rõ phương thức giám sát thực hiện các biện pháp kiểm soát nói trên của cơ sở để bảo đảm các biện pháp đó được triển khai trên thực tế; (4) lưu trữ thường xuyên hồ sơ giám sát; (5) cụ thể hóa những hành động mà cơ sở sẽ thực hiện để khắc phục các vấn đề về an toàn thực phẩm nếu phát sinh. Các nguy cơ cần đánh giá có thể đã biết hoặc dự liệu được một cách hợp lý, bao gồm các nguy cơ về sinh học, hóa học, vật lý, phóng xạ, chất độc tự nhiên, thuốc trừ sâu, dư lượng thuốc, phân hủy, ký sinh, căn nguyên gây dị ứng, các thực phẩm và chất phụ gia tạo màu không được chấp thuận; các nguy cơ xảy ra trong tự nhiên hoặc do vô ý hay cố ý.

Thứ hai, đặt ra các tiêu chuẩn bắt buộc đối với rau quả tươi. FDA phải xây dựng các tiêu chuẩn tối thiểu dựa trên cơ sở khoa học cho việc sản xuất và thu hoạch an toàn đối với các loại rau quả. Các tiêu chuẩn này phải xem xét đến các nguy cơ xảy ra tự nhiên cũng như có thể xảy ra một cách vô ý hoặc cố ý và có tính đến các yếu tố như cải tạo đất (các nguyên liệu được bổ sung vào đất như phân hữu cơ), vệ sinh, đóng gói rau quả, kiểm soát nhiệt độ, gia súc trong khu vực canh tác, nước…

Thứ ba, ngăn ngừa hành vi cố ý pha trộn tạp chất vào thực phẩm. FDA phải ban hành các quy định để chống lại việc cố ý pha trộn tạp chất vào thực phẩm, trong đó có việc xây dựng các chiến lược giảm thiểu rủi ro dựa trên cơ sở khoa học nhằm bảo vệ chuỗi cung ứng thực phẩm ở những điểm dễ bị xâm phạm nhất.

Kiểm tra và bảo đảm tuân thủ

FSMA quy định cho FDA các cụ cụ mới, quan trọng trong việc kiểm tra và bảo đảm tuân thủ. Theo đó, Luật quy định tần suất kiểm tra bắt buộc dựa trên rủi ro đối với các cơ sở cung ứng thực phẩm và tần suất kiểm tra có thể tăng lên ngay lập tức đối với các trường hợp có nguy cơ cao. Tất cả các cơ sở sản xuất, chế biến thực phẩm trong nước có nguy cơ cao phải được kiểm tra trong vòng 5 năm kể từ khi Luật mới được ban hành và ít nhất 3 năm 1 lần sau đó. Trong thời hạn 1 năm kể từ khi luật mới được ban hành, FDA phải kiểm tra ít nhất 600 cơ sở sản xuất, chế biến thực phẩm của nước ngoài và trong năm tiếp theo, mỗi năm FDA phải tăng số lượng kiểm tra này lên gấp đôi.

FDA có quyền tiếp cận và kiểm tra các hồ sơ, bao gồm các kế hoạch bảo đảm an toàn thực phẩm của các cơ sở, và các cơ sở này phải thường xuyên lưu trữ, cập nhật hồ sơ thực hiện kế hoạch an toàn thực phẩm của mình.

FSMA yêu cầu một số trường hợp kiểm nghiệm thực phẩm phải được thực hiện bởi các cơ sở kiểm nghiệm đã được chứng nhận và yêu cầu FDA xây dựng chương trình kiểm định chất lượng cơ sở kiểm nghiệm để bảo đảm đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng cao.

Ứng phó với sự cố

Để ứng phó hiệu quả với sự cố an toàn thực phẩm phát sinh, Luật quy định cho FDA có quyền ra quyết định thu hồi bắt buộc khi một công ty không tự nguyện thu hồi thực phẩm không an toàn sau khi FDA đã yêu cầu. FDA được trao quyền rộng hơn và linh hoạt hơn trong việc tạm giữ hành chính đối với sản phẩm có khả năng vi phạm pháp luật. FDA cũng có thể tạm đình chỉ đăng ký cơ sở cung ứng thực phẩm nếu cơ quan này xác định rằng thực phẩm có khả năng gây những hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe hoặc có khả năng dẫn đến tử vong. Cơ sở đang trong thời gian tạm đình chỉ đăng ký sẽ bị cấm phân phối thực phẩm.

FDA phải thiết lập hệ thống nâng cao khả năng truy xuất thực phẩm, bao gồm cả thực phẩm trong nước và nhập khẩu. Ngoài ra, FDA phải lập các dự án thí điểm để tìm hiểu và đánh giá các phương pháp nhận diện chủ thể tiếp nhận thực phẩm một cách nhanh chóng, hiệu quả, nhằm ngăn chặn hoặc kiểm soát sự bùng phát dịch bệnh cho thực phẩm gây ra. FDA cũng phải ban hành quy định về các yêu cầu lưu trữ hồ sơ đối với các cơ sở sản xuất, chế biến, đóng gói, cất trữ thực phẩm được xác định là có nguy cơ cao.

Thực phẩm nhập khẩu

Luật mới lần đầu tiên cho phép FDA có quyền hạn nhằm bảo đảm rằng thực phẩm nhập khẩu đáp ứng các tiêu chuẩn của Hoa Kỳ và an toàn đối với người tiêu dùng Hoa Kỳ. Theo đó, lần đầu tiên các công ty nhập khẩu có trách nhiệm xác nhận rằng nhà cung cấp thực phẩm từ nước ngoài của họ đã áp dụng các biện pháp kiểm soát phòng ngừa đầy đủ nhằm bảo đảm rằng thực phẩm của họ an toàn. Luật quy định bên thứ ba có đủ điều kiện có thể chứng nhận rằng các cơ sở cung ứng thực phẩm của nước ngoài tuân thủ đúng tiêu chuẩn an toàn thực phẩm của Hoa Kỳ. Chứng nhận này có thể được sử dụng để thông quan hàng hóa nhập khẩu. FDA phải thiết lập hệ thống công nhận các tổ chức đủ điều kiện chứng nhận.

FDA cũng thiết lập một chương trình tự nguyện, theo đó, thực phẩm nhập khẩu có thể được kiểm tra và thông quan nhanh nếu nhà nhập khẩu đã thực hiện các biện pháp nhất định để bảo đảm an toàn thực phẩm và đã tự nguyện tham gia chương trình.

FDA có quyền từ chối, không cho đưa vào lãnh thổ Hoa Kỳ thực phẩm của một cơ sở cung ứng nước ngoài nếu cơ sở đó hoặc quốc gia nơi có cơ sở đó không cho phép FDA tiếp cận để kiểm tra.

Tăng cường cơ chế phối hợp

FSMA thiết lập hệ thống phối hợp chính thức giữa FDA với các cơ quan chính phủ khác, kể cả các cơ quan trong nước và ngoài nước. Chẳng hạn như, FDA phải xây dựng và thực hiện chiến lược nâng cao năng lực bảo đảm an toàn thực phẩm của các cơ quan chính quyền tiểu bang và địa phương; xây dựng kế hoạch toàn diện để nâng cao năng lực của các chính phủ nước ngoài và các ngành sản xuất, chế biến thực phẩm của nước ngoài; tổ chức đào tạo, tập huấn cho chính phủ nước ngoài và các nhà sản xuất thực phẩm nước ngoài về các điều kiện an toàn thực phẩm của Hoa Kỳ.

FDA được sử dụng kết quả thanh tra, kiểm tra của các cơ quan khác của liên bang, tiểu bang và địa phương để bảo đảm đáp ứng chỉ tiêu kiểm tra đối với các cơ sở cung ứng thực phẩm trong nước. FDA cũng có thể ký kết thỏa thuận liên ngành để phối hợp kiểm tra các cơ sở sản xuất thủy, hải sản, kể cả trong và ngoài nước. FDA có văn phòng ở một số nước và khu vực xuất khẩu thực phẩm chủ yếu vào Hoa Kỳ như Trung Quốc, EU, Mỹ Latin, Ấn Độ… để phối hợp với cơ quan quản lý an toàn thực phẩm nước ngoài trong việc kiểm tra các cơ sở sản xuất, chế biến thực phẩm ở nước đó, kiểm tra các lô hàng xuất khẩu, bảo đảm thực phẩm xuất khẩu sang Hoa Kỳ đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn của Hoa Kỳ.

TS. Nguyễn Bích Thảo - Khoa Luật, ĐHQG Hà Nội

tin cùng chuyên mục