Liên quan đến vấn đề trên, theo luật sư Nguyễn Thanh Tùng – Cty Luật ICC cho rằng, để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc bảo đảm thi hành án, Điều 109 Bộ Luật Tố tụng Hình sự 2015 (TTHS) đã quy định các biện pháp ngăn chặn gồm: giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh.

Theo luật sư Tùng, về tạm giam, đây là biện pháp ngăn chặn đã được quy định cụ thể tại Điều 119 Bộ Luật Tố tụng Hình sự 2015. Theo đó, tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng.

"Tạm giam cũng có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên 2 năm (nếu có các căn cứ quy định tại Khoản 2 Điều 119 Bộ Luật TTHS) hoặc áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù đến 2 năm nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã" - luật sư Tùng cho hay.

Về căn cứ để không áp dụng biện pháp tạm giam, tại Khoản 4 Điều 119 Bộ Luật TTHS 2015 quy định: Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ các trường hợp:

"Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã; Tiếp tục phạm tội; Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm hoặc người thân thích của những người này; Bị can, bị cáo về tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ xác định nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia”.

Cũng theo luật sư Tùng, đối với trường hợp của ông Nguyễn Đức Chung, nguyên Chủ tịch UBND TP Hà Nội hiện đang bị áp dụng biện pháp tạm giam mà mắc bệnh ung thư, nếu gia đình cũng như bản thân ông Chung có đề nghị được tại ngoại thì các Cơ quan tiến hành tố tụng sẽ xem xét, đối chiếu với các căn cứ tại Khoản 4 Điều 119 Bộ Luật TTHS 2015 nêu trên để quyết định.

Theo thông tin, do ông Chung bị bệnh ung thư là bệnh nặng, đồng thời có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng nên nếu Cơ quan tiến hành tố tụng xét thấy không có các căn cứ như quy định tại Khoản 4 Điều 119 Bộ Luật TTHS 2015 và việc cho tại ngoại không gây ảnh hưởng đến công tác điều tra thì hoàn toàn có thể ra quyết định thay đổi biện pháp ngăn chặn từ tạm giam sang cấm đi khỏi nơi cư trú để cho ông Chung được tại ngoại phục vụ điều tra.