Thứ bảy, ngày 04/07/2020 05:07:12 ĐT:(08) 3932 0692 - 3932 1636 - Fax: (08) 3932 5247 Email: hoiluatgiatvpl@gmail.com

Kỳ họp thứ Chín, Quốc hội khóa XIV Nghe Tờ trình và Báo cáo thẩm tra dự án Luật Cư trú (sửa đổi)


Cập nhật: 4h17' ngày 25/05/2020


 11:14 | 23/05/2020

Sáng 23.5, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu, Quốc hội đã họp trực tuyến nghe trình bày Tờ trình và Báo cáo thẩm tra về dự án Luật Cư trú (sửa đổi).

Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu điều hành phiên họp
Ảnh: Lâm Hiển 

Xóa bỏ thủ tục hành chính rườm rà

Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm trình bày Tờ trình dự án Luật Cư trú (sửa đổi), trong đó nêu rõ, việc xây dựng Luật nhằm bảo đảm phù hợp với quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về quản lý cư trú và chủ trương đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân liên quan đến quản lý dân cư.

Việc sửa đổi, ban hành dự án luật cũng nhằm khắc phục một số bất cập trong pháp luật hiện hành, hoàn thiện hệ thống pháp luật về cư trú phù hợp chủ trương cải cách hành chính và tiến trình hội nhập, mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xu thế hội nhập quốc tế hiện nay. Trong đó có một số quy định mới được ban hành có liên quan đến đơn giản hóa, hiện đại hóa; hoàn thiện công tác bảo đảm tốt hơn nữa quyền tự do cư trú của công dân.


Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm trình bày Tờ trình dự án Luật Cư trú (sửa đổi)
Ảnh: Lâm Hiển 

Cũng theo Tờ trình, Hiến pháp năm 2013 đã quy định quyền tự do cư trú, đi lại, giao dịch, quyền bầu cử, ứng cử, học tập, làm việc, sở hữu tài sản, quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân… là quyền con người, quyền công dân được Nhà nước công nhận, tôn trọng và bảo vệ. Quản lý cư trú có liên quan trực tiếp đến những quyền này. Vì vậy, việc sửa đổi Luật Cư trú là để cụ thể hóa quy định của Hiến pháp 2013 về bảo đảm quyền con người, quyền công dân liên quan đến quản lý cư trú theo hướng quy định công khai, minh bạch, đơn giản hóa giấy tờ, giảm thời gian, chi phí; xóa bỏ các thủ tục hành chính còn rườm rà, dễ bị lợi dụng để gây phiền hà cho người dân; qua đó, bảo đảm tốt hơn nữa việc thực hiện quyền tự do cư trú của công dân.

Dự thảo Luật Cư trú (sửa đổi) gồm 7 chương, 43 điều (tăng một chương III - Nơi cư trú) và tăng một điều so với Luật Cư trú hiện hành, trong đó, bổ sung 12 điều, bỏ 8 điều, chỉnh lý 24 điều, trong đó có 2 nhóm chính sách. Một là, nhóm chính sách về bãi bỏ hình thức quản lý dân cư bằng Sổ Hộ khẩu, Sổ Tạm trú và thay thế bằng hình thức quản lý theo số định danh cá nhân cập nhật thông tin trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cở sở dữ liệu về cư trú. Hai là, nhóm chính sách về quy định về trình tự, thủ tục đăng ký cư trú theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính.

Làm rõ đối tượng áp dụng của Luật

Trình bày Báo cáo thẩm tra dự án Luật Cư trú (sửa đổi), Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Hoàng Thanh Tùng cho biết, Thường trực Ủy ban Pháp luật cơ bản tán thành về sự cần thiết sửa đổi toàn diện Luật Cư trú để tiếp tục thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng, đặc biệt khi ban hành Hiến pháp 2013 về quyền tự do cư trú của công dân, tạo hành lang pháp lý bảo đảm tốt hơn việc thực hiện quyền tự do cư trú của công dân.

Về cơ bản, Ủy ban Pháp luật tán thành phạm vi điều chỉnh của Luật là quy định về quyền tự do cư trú của công dân trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; nguyên tắc, điều kiện, trình tự, thủ tục đăng ký, quản lý cư trú; quyền, trách nhiệm của công dân, hộ gia đình, cơ quan, tổ chức về đăng ký, quản lý cư trú.

Bên cạnh đó, Ủy ban Pháp luật đề nghị làm rõ về đối tượng áp dụng của Luật chỉ gồm công dân Việt Nam hay mở rộng cả đối với “người Việt Nam định cư ở nước ngoài mang hộ chiếu nước ngoài” (điểm b khoản 2 Điều 22) để phù hợp với phạm vi điều chỉnh của Luật và không chồng lấn với đối tượng áp dụng của Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam.

Mới có hơn 18 triệu công dân được cấp số định danh cá nhân

Về phương thức quản lý dân cư theo số định danh cá nhân cập nhật thông tin trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu về cư trú, theo Tờ trình của Chính phủ, một trong những chính sách cơ bản của dự án Luật là thay đổi phương thức quản lý cư trú từ quản lý bằng sử dụng sổ giấy sang phương thức quản lý hiện đại bằng số định danh cá nhân để truy cập, cập nhật, điều chỉnh trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu về cư trú. Theo đó, dự thảo Luật đã bỏ các quy định về Sổ hộ khẩu, Sổ tạm trú cấp cho hộ gia đình, cá nhân theo Luật Cư trú hiện hành.

Ủy ban Pháp luật nhất trí với việc đổi mới phương thức quản lý cư trú của công dân thông qua số định danh cá nhân được cập nhật thông tin trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Phương thức quản lý này sẽ giúp không chỉ đơn giản hóa thủ tục, giấy tờ, tạo điều kiện thuận lợi và tiết kiệm chi phí hành chính, bảo đảm tốt hơn việc thực hiện quyền tự do cư trú của công dân mà còn góp phần bảo đảm quản lý dân cư chặt chẽ, thực chất, hiệu quả hơn, khắc phục nhiều bất cập trong công tác quản lý dân cư ở nước ta hiện nay. Đây cũng là phương thức quản lý cư trú hiện đại dựa trên việc ứng dụng công nghệ thông tin, phù hợp với xu thế phát triển, được một số quốc gia trên thế giới áp dụng.

Tuy nhiên, để bảo đảm tính khả thi của phương thức quản lý cư trú mới,  không gây xáo trộn lớn đối với cuộc sống, sinh hoạt của người dân và hoạt động của các cơ quan nhà nước khi bỏ Sổ hộ khẩu, Sổ tạm trú, Ủy ban Pháp luật đề nghị cơ quan soạn thảo làm rõ: Phương thức quản lý cư trú mới chỉ có thể được vận hành thông suốt trên cơ sở tất cả công dân Việt Nam đã được cấp số định danh cá nhân. Theo quy định của Luật Căn cước công dân, số định danh cá nhân được xác lập từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, do Bộ Công an thống nhất quản lý và cấp cho mỗi công dân Việt Nam, không lặp lại ở người khác (Điều 12). Sau hơn 4 năm triển khai thực hiện, theo Tờ trình của Chính phủ, đến nay mới có hơn 18 triệu công dân được cấp số định danh cá nhân và dự kiến đến tháng 12.2020 sẽ hoàn thành việc xác lập số định danh cá nhân cho toàn bộ công dân Việt Nam.

Tuy nhiên,  theo Báo cáo của Bộ Công an thì công tác này cần nhiều thời gian, đòi hỏi sự chính xác, có kiểm tra, đối soát chặt chẽ. Trong khi đó, việc đầu tư, bố trí kinh phí cho hoạt động này còn hạn chế nên quá trình triển khai gặp không ít vướng mắc... Vì vậy, đề nghị Chính phủ cần có giải pháp cụ thể để khắc phục các khó khăn, bảo đảm hoàn thành việc cấp số định danh cá nhân cho gần 80 triệu công dân còn lại theo đúng tiến độ đề ra.

Có giải pháp phù hợp thay thế sổ hộ khẩu, sổ tạm trú 

Một vấn đề nữa, đó là nền tảng công nghệ để vận hành phương thức quản lý cư trú mới là Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và Cơ sở dữ liệu về cư trú. Để bảo đảm tính khả thi của Luật thì đến thời điểm Luật Cư trú (sửa đổi) có hiệu lực, các cơ sở dữ liệu này phải được xây dựng xong đồng bộ, đưa vào vận hành và bảo đảm kết nối, cập nhật, chia sẻ, khai thác thông tin thông suốt giữa các cơ quan đăng ký, quản lý cư trú từ trung ương đến cơ sở; đồng thời, kết nối và chia sẻ thông tin với các cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác có liên quan cũng như với các cơ quan, tổ chức đang được giao thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công, giải quyết thủ tục hành chính cho công dân. Theo quy định của Luật Căn cước công dân, chậm nhất từ ngày 1.1.2020 phải thực hiện thống nhất công tác quản lý công dân thông qua Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Tuy nhiên, đến nay Cơ sở dữ liệu này vẫn đang trong quá trình xây dựng, hoàn thiện, đã phải điều chỉnh chủ trương đầu tư và chậm về tiến độ so với yêu cầu của Luật. Theo Báo cáo của Bộ Công an, dự kiến tháng 6.2021 sẽ đưa Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư vào vận hành. Tuy vậy, qua khảo sát thực tế việc xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu về cư trú tại Bộ Công an cho thấy, một số gói thầu có liên quan mới đang trong giai đoạn đàm phán ký hợp đồng; đồng thời, kinh phí đầu tư xây dựng các cơ sở dữ liệu này cũng chưa được cấp đủ.


Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Hoàng Thanh Tùng trình bày Báo cáo thẩm tra dự án Luật Cư trú (sửa đổi)
Ảnh: Lâm Hiển 

Vì vậy, để bảo đảm tiến độ hoàn thành việc xây dựng, vận hành Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu về cư trú, Ủy ban Pháp luật đề nghị Chính phủ quan tâm chỉ đạo quyết liệt, nhất là bảo đảm việc bố trí đủ vốn cho dự án xây dựng các cơ sở dữ liệu này, Chủ nhiệm UB Hoàng Thanh Tùng nói.

Khi chuyển đổi sang phương thức quản lý cư trú thông qua số định danh cá nhân, bỏ Sổ hộ khẩu sẽ tác động, ảnh hưởng lớn tới các quy định về giấy tờ công dân trong nhiều thủ tục hành chính hiện hành, tác động tới các chính sách, quy định về hộ gia đình (trong các lĩnh vực như giáo dục, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, kinh doanh, đất đai, nhà ở…) cũng như việc xác định quan hệ nhân thân để hưởng quyền lợi và thực hiện nghĩa vụ công dân (như về hưởng thừa kế, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng…) vì việc chứng minh hộ gia đình và quan hệ nhân thân hiện đang chủ yếu dựa vào Sổ hộ khẩu, Sổ tạm trú. Các thủ tục này đang được quy định trong một số văn bản luật và nhiều văn bản dưới luật. Do đó, trong quá trình sửa đổi, bổ sung các văn bản này để phù hợp với phương thức quản lý cư trú mới, đề nghị cần xem xét, có giải pháp phù hợp thay thế các sổ này trong việc chứng minh quan hệ hộ gia đình, xác định quan hệ nhân thân, giải quyết thủ tục hành chính để không gây xáo trộn, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức và hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước...

Làm rõ giá trị pháp lý của một số giấy tờ cư trú

Về việc đơn giản hóa thủ tục hành chính trong quản lý cư trú, theo Tờ trình của Chính phủ, việc thực hiện quản lý dân cư thông qua phương thức mới bằng số định danh cá nhân cập nhật thông tin trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu về cư trú sẽ dẫn đến việc bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ 13 nhóm thủ tục hành chính liên quan đến đăng ký, quản lý thường trú, tạm trú của công dân.

Ủy ban Pháp luật tán thành việc cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong công tác đăng ký, quản lý cư trú như quy định của dự thảo Luật để góp phần tạo điều kiện thuận lợi hơn cho công dân thực hiện quyền tự do cư trú trên cơ sở ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ trong quản lý cư trú, bảo đảm công khai, minh bạch, phù hợp với mục tiêu xây dựng Chính phủ điện tử.

Ảnh: Lâm Hiển 

Tuy nhiên, theo quy định của dự thảo Luật thì vẫn duy trì một số loại giấy tờ về cư trú do các cơ quan nhà nước cấp cho công dân như Giấy xác nhận khai báo cư trú (Điều 20), Phiếu khai báo tạm vắng (Điều 32). Ủy ban Pháp luật đề nghị làm rõ giá trị pháp lý của các loại giấy tờ này; đồng thời, đề nghị Chính phủ chỉ đạo đẩy mạnh liên thông cập nhật, sử dụng, khai thác thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu về cư trú giữa các cơ quan nhà nước để tạo điều kiện thuận lợi cho người dân; bỏ hoặc hạn chế tối đa việc người dân phải xin giấy tờ xác nhận về cư trú để nộp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thay vào đó, các cơ quan nhà nước có trách nhiệm tra cứu, xác thực thông tin về cư trú, quan hệ hộ gia đình, nhân thân của người dân trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu về cư trú khi giải quyết thủ tục hành chính.

Bên cạnh đó, Ủy ban Pháp luật đề nghị rà soát, quy định cụ thể ngay trong Luật các thủ tục về xóa đăng ký thường trú, đăng ký lại nơi thường trú trước đây (Điều 25), xóa đăng ký tạm trú (Điều 30), bảo đảm đồng bộ với quy định về thủ tục đăng ký thường trú (Điều 22), tách hộ và thay đổi, điều chỉnh thông tin về cư trú (Điều 27), thủ tục đăng ký tạm trú (Điều 29). Việc quy định cụ thể các thủ tục trong Luật góp phần thực hiện chủ trương cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính, tăng cường tính công khai, minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi cho công dân trong thực hiện quyền tự do cư trú.

Về quy định các trường hợp bị hạn chế quyền tự do cư trú (Điều 9), Ủy ban Pháp luật cơ bản nhất trí việc bổ sung một số trường hợp bị hạn chế quyền tự do cư trú tại Điều 9 của dự thảo Luật để thống nhất với các luật có liên quan. Tuy nhiên, đề nghị nghiên cứu làm rõ các nội dung liên quan như thời hạn hạn chế quyền tự do cư trú cần căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án và các cơ quan tiến hành tố tụng khác hoặc quyết định của cơ quan có thẩm quyền xử lý hành chính; việc quản lý cư trú, quyền và trách nhiệm của các đối tượng quy định tại Điều 9 trong thời gian bị hạn chế quyền tự do cư trú (ngoài trách nhiệm khai báo tạm vắng theo điểm a khoản 1 Điều 32 của dự thảo Luật) nhằm bảo đảm chặt chẽ và thống nhất với quy định của pháp luật có liên quan.

Hồ Long

tin cùng chuyên mục

 
  • Sửa Luật để hạn chế tiêu cực trong đấu thầu(17-05-2013)
  • Luật “xa” thực tế vì… phản biện “hình thức”(17-05-2013)
  • Bỏ hình thức di chúc chung của vợ chồng?(17-05-2013)
  • “Khoảng trống” còn lớn trong quy định về người đồng tính(16-05-2013)
  • Bộ TT&TT bị đứng “ngoài cuộc“ trong phạt vi phạm về quảng cáo?(16-05-2013)
  • Lãng phí khó tính hết bằng tiền từ việc xây dựng văn bản(15-05-2013)
  • Thêm cơ hội phục thiện cho người chưa thành niên vi phạm(13-05-2013)
  • Đổi mới Tòa án để đảm bảo quyền tiếp cận công lý(11-05-2013)
  • Quy định về hộ gia đình “làm khó“ người giao dịch dân sự(06-05-2013)
  • Luật chưa phải “cây gậy thần“ ngăn tình trạng mua bán người?(06-05-2013)
  • Mã số công dân: Nhìn từ thành công của châu Âu(04-05-2013)
  • Phụ nữ Việt Nam mơ luật bỏ tù chồng ngoại tình như Hàn Quốc(04-05-2013)
  • Thừa phát lại không được lập vi bằng về bí mật đời tư(03-05-2013)
  • Lỗ hổng pháp luật trong bảo vệ bí mật đời tư(03-05-2013)
  • Người đồng tính chỉ được cưới sau khi xác định lại giới tính?(01-05-2013)
  • Miễn trách nhiệm hình sự thế nào để tránh hàm oan, lọt tội?(30-04-2013)
  • Nguồn “đóng“, Luật hình sự “chạy đuổi“ thực tế(26-04-2013)
  • Kêu oan vì được... miễn tội(24-04-2013)
  • “Nguy hiểm”… quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất?(23-04-2013)
  • “Luật HNGĐ phải tôn trọng và bảo đảm thực hiện quyền con người”(22-04-2013)