Thứ bảy, ngày 16/11/2019 12:21:19 ĐT:(08) 3932 0692 - 3932 1636 - Fax: (08) 3932 5247 Email: hoiluatgiatvpl@gmail.com

Kỳ họp thứ Tám, Quốc hội Khóa XIV: Quốc hội tiến hành phiên chất vấn và trả lời chất vấn


Cập nhật: 5h10' ngày 07/11/2019


 

Quốc hội tiến hành phiên chất vấn và trả lời chất vấn

12:11 | 06/11/2019
Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 8, sáng 6.11, tại Hội trường Diên Hồng, QH tiến hành phiên chất vấn và trả lời chất vấn. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường sẽ mở đầu cho phiên chất vấn và trả lời chất vấn của QH.

Dịch tả lợn châu Phi: Đã rơi vào điểm thấp nhất của chu kỳ dịch bệnh

Dịch tả lợn châu Phi diễn biến phức tạp, lây lan ở nhiều tỉnh, thành phố, diễn ra kéo dài. Đề cập đến vấn đề đang gây khó khăn cho người chăn nuôi cả nước, ĐBQH Nguyễn Sơn (Hà Tĩnh) nêu vấn đề: Bộ có hướng dẫn địa phương phòng, chống, nhưng triển khai theo phong trào, có nơi thực hiện hình thức, gây lây lan ở diện rộng. Bộ NN - PTNT đánh giá như thế nào về thực hiện chống dịch tả lợn châu Phi? Có giải pháp nào chấm dứt tình trạng này?

Trả lời chất vấn của ĐB Nguyễn Sơn (Hà Tĩnh), Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cho biết, dịch tả lợn châu Phi là dịch bệnh lịch sử ở nước ta, cũng như trên thế giới. Chưa bao giờ có một dịch bệnh ảnh hưởng mạnh như vậy. Dịch bệnh này gây hại do một loại virus khi xâm nhập vào đàn lợn tỷ lệ chết lớn. Điểm khó nữa là 100 năm nay thế giới chưa có loại virus này, và trong tình hình biến đổi khí hậu hiện nay có tốc độ lây lan nhanh hơn.

Từ tháng 8.2018 xuất hiện dịch bệnh này ở Trung Quốc, nay đã có 28 quốc gia xảy ra dịch bệnh này. 30% đàn lợn của thế giới bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh này. Chưa có số liệu chính xác, nhưng Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cho rằng “đang tạo ra một cuộc khủng hoảng thực phẩm chưa có từ trước đến nay”. 

Với tính chất và mức độ nguy hiểm của dịch, Bộ trưởng cho biết, ngay từ tháng 8.2018, khi Trung Quốc xảy ra dịch bệnh, “chúng ta đã ý thức ngay”. Đầu tháng 8.2018 xảy ra dịch bệnh ở Trung Quốc, thì 30.8 Bộ NN - PTNT đã triển khai họp bàn về ngăn ngừa lây lan dịch bệnh. Ngày 20.9, Chính phủ cũng triển khai họp để bàn về nguy cơ lây lan, ngăn chặn dịch bệnh. Hiện nay, đã ban hành 6 văn bản chỉ đạo về phòng, chống dịch bệnh tả lợn châu Phi; 40 văn bản hướng dẫn triển khai của Bộ NN - PTNT, các địa phương. 

Ảnh: Quang Khánh

Do vậy, về mặt nhận thức, “chúng ta ý thức rõ sự nguy hiểm của dịch bệnh này, đã có kịch bản, ngay từ tháng 9.2018 đã có diễn tập ứng phó”, Bộ trưởng khẳng định. Nhưng với tính chất khó khăn trong ứng phó dịch tả lợn châu Phi, trong năm 2019, ổ dịch đầu tiên đã xảy ra, và với đặc điểm của loại dịch bệnh này hiện đã lan trên toàn quốc, gây tổng thiệt hại 5,7 triệu con lợn, bằng 81% tổng sản lượng cân thịt lợn của chúng ta. “Đây là thiệt hại rất lớn, đặc biệt là nếu rơi vào hộ nhỏ lẻ thì vô cùng tai hại”, Bộ trưởng nói. 

Khẳng định đã “tập trung các nhóm giải pháp để ứng phó”, Bộ trưởng cũng cảm ơn các địa phương đã tập trung thực hiện, dù đây đó có mặt này, mặt khác, nhưng đều có sự chỉ đạo quyết liệt của lãnh đạo tỉnh”. Ở Hưng Yên, Nam Định - là những địa bàn xuất hiện ổ dịch đầu tiên, cũng như ở các địa phương khác, lãnh đạo địa phương đều ra quân chỉ đạo. 

Với sự nỗ lực của các địa phương, bộ, ngành, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cho biết, hiện nay đã rơi vào “điểm thấp nhất” của chu kỳ dịch bệnh. Nếu tháng 6.2018, đỉnh điểm phải tiêu hủy 1,2 triệu con lợn, thì hiện còn dưới 400 nghìn con lợn. Cho đến nay, 60% số xã qua 30 ngày dịch không còn phát hiện lại. Tại Hưng Yên - địa phương đầu tiên xuất hiện ổ dịch, hiện đã có 100 xã không còn xuất hiện lại đàn lợn bị dịch bệnh. 

Với những biện pháp đã triển khai, Bộ trưởng khẳng định, “bằng mọi biện pháp chúng ta đã hạn chế được mức thấp nhất trong hoàn cảnh cho phép”.

Cần cái nhìn toàn diện, không tách rời nông nghiệp

Trong Phiên chất vấn sáng nay, hàng loạt ĐBQH giơ biển tranh luận với phần trả lời của Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường.

Đề cập đến chương trình xây dựng nông thôn mới, ĐBQH, Phó Chủ tịch Nước Đặng Thị Ngọc Thịnh nêu vấn đề: Qua các cuộc tiếp xúc cử tri tại Vĩnh Long và gặp nhiều cán bộ lão thành cách mạng có nêu kiến nghị, thời gian đầu thực hiện mục tiêu nông thôn mới cần tập trung vào xã dễ và có điều kiện, nhưng bây giờ còn rất nhiều vùng, đặc biệt là xã an toàn khu, xã ở vùng căn cứ kháng chiến, các xã vùng sâu có điều kiện khó khăn, chưa được quan tâm. Cho nên nhiều cán bộ lão thành và các xã căn cứ kháng chiến, xã có công với cách mạng mong muốn, Nhà nước quan tâm đầu tư chương trình nông thôn mới các xã này. “Quan điểm Bộ trưởng thế nào và bao giờ đầu tư được các xã này”, ĐBQH Đặng Thị Ngọc Thịnh hỏi?

Ghi nhận trả lời của Bộ trưởng cho thấy, Bộ trưởng đã làm nhiều việc và sát sao, tuy nhiên theo ĐBQH Phan Thanh Bình (TP Hồ Chí Minh), Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, TN, TN và NĐ, khi nói về nông nghiệp, về mùa và giá, Bộ trưởng chia sẻ suy nghĩ sản xuất nông nghiệp rủi ro, hiệu quả kinh tế không cao. Từ đó, nêu hai lý do chủ yếu, chủ quan do nông nghiệp chế biến, khách quan là kinh tế thị trường, thiên tai dịch họa. “Hai lý do này không sai, nhưng tôi băn khoăn khi nhìn nhận nông nghiệp như thế, vì không phải các nước nền nông nghiệp không phát triển được, đối với nước ta thì nông nghiệp là điểm dựa của kinh tế và trong những thời điểm khủng hoảng kinh tế thế giới, thì điều tạo ra sức bật cho kinh tế là nông nghiệp”, ĐB Phan Thanh Bình nêu rõ. 

“Chúng ta không thể tách rời nông nghiệp mà phải nhìn ở “tam nông” - nông nghiệp, nông thôn, nông dân, và phải làm trọn vẹn vấn đề này, ĐB Phan Thanh Bình đề nghị. ĐB Phan Thanh Bình cũng nêu rõ “chúng ta đẩy được nông thôn mới, nhưng mới chỉ về an sinh, văn hóa, hạ tầng nhưng có gắn với kinh tế và sức sản xuất của nông dân không? Nói cách khác, cần nhìn nhận ở tất cả lĩnh vực chứ không đơn giản là nông nghiệp.

Cũng theo ĐB Phan Thanh Bình, trong nông nghiệp quan trọng nhất là chuỗi giá trị sản phẩm, đi từ sản xuất, qua chế biến, thị trường, Bộ trưởng có nói đến vấn đề này và nhấn mạnh chế biến, nhưng thực sự sản xuất đã quy chuẩn được chưa? Hiện nay, hội nhập quốc tế sâu rộng kèm theo đó là tính rủi ro sẽ rất cao.

Về quản lý nhà nước, ĐB Phan Thanh Bình đề nghị nên rõ trách nhiệm.

Đại biểu Nguyễn Thị Quyết Tâm (TP Hồ Chí Minh) chất vấn Bộ trưởng Ảnh: Quang Khánh

Tiếp tục tranh luận, ĐBQH Nguyễn Thị Quyết Tâm (TP Hồ Chí Minh) bày tỏ sự không đồng tình với ý kiến của Bộ trưởng khi nói rằng, khâu tổ chức sản xuất không còn là số 1. “Sắp số thứ tự như thế nào là tùy Bộ trưởng, nhưng theo tôi, tổ chức sản xuất là gốc của vấn đề để nông nghiệp phát triển bền vững và phát huy đúng tiềm năng của nền nông nghiệp Việt Nam”. ĐB Nguyễn Thị Quyết Tâm đề nghị: Bộ trưởng cho biết quan điểm nêu trên là đúng hay sai? Vì sao tổ chức sản xuất không phải là số 1, nếu tổ chức sản xuất không tốt lấy đâu ra sản phẩm tốt, lấy đâu ra sản phẩm để bán, bán cho ai và lấy gì để chế biến?.

Trả lời ĐB Đặng Thị Ngọc Thịnh, Bộ trưởng khẳng định chăm lo cho vùng sâu, vùng xa, khó khăn là “trách nhiệm của chúng ta”. Tới đây, Thủ tướng đang giao nhiệm vụ đánh giá 10 năm thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, trong đó có nội dung đề xuất nguồn lực và phương thứ. “Đây là nhóm và nội dung đầu tiên phải chú trọng”, Bộ trưởng nói.

Về ý kiến của ĐBQH Nguyễn Thị Quyết Tâm, Bộ trưởng cho biết, trong điều kiện tổ chức sản xuất hiện nay, thì thị trường là khâu khó nhất. Trong bối cảnh căng thẳng thương mại vừa qua, thì “từng cân rau, cân quả phải đấu tranh để bán hàng; khâu chế biến đang kém, hầu hết xuất thô, chứ không phải nói thế là coi nhẹ sản xuất”, Bộ trưởng nêu rõ… “Nhưng làm tốt đến mấy mà không có chế biến thì không thể nào bán được”, Bộ trưởng khẳng định lại.

Nhóm cây cà phê, cao su: Không tăng sản lượng - tăng chất lượng

Chưa nhận được trả lời từ Bộ trưởng, ĐBQH Tô Văn Tám (Kon Tum) tranh luận: Vùng Tây Nguyên có cây cà phê, cao su được người dân trồng theo phong trào “cà phê nhân dân”. Cà phê trồng theo phong trào bấp bênh. Qua tiếp xúc cử tri, bà con bày tỏ muốn được trợ giá. “Đề nghị Bộ trưởng cho biết quan điểm về đề xuất này”, ĐB Tô Văn Tám hỏi. 

Đây cũng là mối quan tâm của ĐBQH Nguyễn Duy Hữu (Đắk Lắk).

Trả lời các chất vấn của đại biểu, Bộ trưởng nhấn mạnh: “Những vấn đề đại biểu đưa ra cần được giải quyết bằng nhóm giải pháp căn cơ và dài hạn”. Diện tích cà phê của chúng ta hiện lên đến 680 nghìn ha, với sản lượng rất cao. Thế giới đang khủng hoảng cung - cầu, cung vượt cầu. Do đó, Bộ trưởng nêu rõ, “cần rà soát theo ba nhóm giải pháp lớn, trong đó diện tích già cỗi, canh tác kém, năng suất thấp kiên quyết cải tạo, thay thế”. Vừa qua, các tỉnh đã làm rất tốt, xác định 120 nghìn ha già cỗi, canh tác kém để thay thế, chuyển sang cây trồng mới.

Đại biểu Nguyễn Duy Hữu (Đắk Lắk) chất vấn Bộ trưởng Ảnh: Quang Khánh

Nhóm giải pháp thứ hai, theo Bộ trưởng, “không gì bằng tập trung chế biến”, vì lượng nông sản được chế biến chiếm 12% tổng sản lượng nông sản nhưng đem lại 20% giá trị. “Đầu tư chế biến sẽ tạo chuỗi giá trị sản xuất khép kín, có chế biến mới rải vụn sản phẩm, không có tình trạng tập trung chào bán trong một thời điểm”. 

Riêng đối với cây cà phê, Bộ trưởng cho biết, sẽ tiến hành đồng bộ giải pháp, rà soát diện tích cây nào già cỗi sẽ tái canh; sản xuất hữu cơ, thân thiện với môi trường; tập trung chế biến sâu bằng thực hiện các giải pháp thu hút doanh nghiệp đầu tư. Để thực hiện mục tiêu phát triển chế biến sâu, Bộ trưởng cho biết, “trong lễ hội cà phê năm nay sẽ có một chương trình để giới thiệu tiềm năng cho doanh nghiệp, để cùng chung tay thực hiện”.

Về cây cao su, chia sẻ với khó khăn của bà con, Bộ trưởng cũng nêu rõ, loại cây này sẽ còn một thời kỳ giảm giá. Bởi từ nay đến năm 2050, thế giới có xu hướng kết thúc năng lượng hóa thạch, chuyển sang một dạng năng lượng văn minh hơn là năng lượng tái tạo. Cùng với việc gia tăng sử dụng năng lượng tái tạo, sự trồi sụt của tăng trưởng kinh tế thế giới, nên nhu cầu tiêu thụ cao su mất cân đối với nguồn cung cấp. “Chủ trương dài hạn là rà soát lại, không tăng diện tích trồng cao su”, Bộ trưởng nói. 

Bộ trưởng cũng khẳng định, giải pháp trước mắt và lâu dài với các nhóm cây trồng cây công nghiệp, đặc biệt là ba nhóm cây trồng ở khu vực Tây Nguyên là cần rà soát, loại nào diện tích đã hết quy hoạch kiên quyết dừng lại, rà soát khu vực nào không thể tăng cường thâm canh. “Lôi kéo doanh nghiệp vào để chế biến; đưa các giải pháp khoa học vào để sản xuất nguyên liệu ở mức hợp lý, không tăng sản lượng nhưng tăng chất lượng, thu hút doanh nghiệp để chế biến nông sản”, Bộ trưởng cho biết. 

Gắn sản xuất với thị trường tiêu thụ - làm gì để hỗ trợ nông dân?

“Chủ trương gắn sản xuất nông nghiệp với thị trường tiêu thụ nông sản là rất đúng đắn, tuy nhiên, ý kiến của cử tri cho rằng, nhiều năm qua công tác này chưa được triển khai tích cực. Việc gắn kết các liên kết trong tổ chức chuỗi giá trị sản xuất không bền vững, chủ yếu là các doanh nghiệp trung gian, người dân sản xuất một số mặt hàng nông nghiệp có khi hòa, có khi lỗ vốn. Nêu thực trạng này, ĐBQH Nguyễn Thanh Hải (Tiền Giang) đặt câu hỏi: “Bộ trưởng sẽ làm gì để hỗ trợ nông dân trong vấn đề trên?”.


Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường trả lời chất vấn
Ảnh: Quang Khánh

Theo Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường, hiện nay chủ trương tái cơ cấu nông nghiệp đang tập trung triển khai ở tất cả vùng miền. Kiên Giang là một trong những địa phương đang triển khai rất tích cực. Về lúa, Kiên Giang dẫn đầu có trên 4 triệu tấn, và chủ trương của tỉnh là giảm nhanh sản lượng lúa, nhường chỗ cho các ngành nghề khác, do đó sản lượng lúa Kiên Giang giảm. Đây là chủ trương rất đúng. 

Về việc khai thác lợi thế, cụ thể là nhóm khai thác thủy sản, Bộ trưởng cho biết, gần nửa triệu tấn thủy sản ở Kiên Giang hiện đang khai thác tốt. Kiên Giang cũng là địa phương đi đầu trong tổ chức mô hình nuôi tôm, tuy nhiên chưa được nhiều lắm, tới đây chúng ta phải làm quyết liệt hơn, kể cả lúa gạo. Qua nhiều lần thăm quan, làm việc, Bộ trưởng nhận thấy Kiên Giang đang làm rất tốt. “Chúng tôi đã thăm mô hình trên mặt đất qua một công ty trung gian với 1.000 ha đất làm hạt nhân, kể cả ứng dụng khoa học công nghệ cao nhất, bảo đảm sản xuất theo hướng thân thiện môi trường, hướng hữu cơ để làm hạt nhân lan tỏa, thu mua nguyên liệu trong vùng đó thông qua công tác hướng dẫn phát triển nguyên liệu, thu mua sản phẩm, tập trung chế biến”… “Tôi ghi nhận ý kiến của đại biểu là cần đẩy nhanh tái cơ cấu nông nghiệp, nguyện vọng này rất đúng. Chúng tôi sẽ cùng với các tỉnh, đặc biệt là Tiền Giang tái cơ cấu nông nghiệp, đặc biệt là thực hiện chuỗi, thực hiện liên thông sản xuất cho các ngành hàng, Bộ trưởng cho biết.

Nợ xấu trong thực hiện Nghị định 67 - sẽ có giải pháp căn cơ

Về tình hình tín dụng trong triển khai thực hiện Nghị định 67/2014/NĐ-CP của Chính phủ về một số chính sách phát triển thủy sản, Bộ trưởng Bộ NN - PTNT đã nói rõ nguyên nhân chủ quan, khách quan của tình trạng nợ xấu khi thực hiện đóng tàu vỏ sắt. Trong Báo cáo gửi đến ĐBQH trước phiên chất vấn và trả lời chất vấn có trình bày thực tế tín dụng cho thực hiện đóng tàu vỏ sắt. 

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Minh Hưng phát biểu Ảnh: Quang Khánh

Giải trình cụ thể hơn tại Phiên chất vấn, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Minh Hưng cho biết, tổng dư nợ cho vay thực hiện Nghị định 67/2014 hiện khoảng 10.500 tỷ đồng, nợ xấu chiếm 33%. Khẳng định nguyên nhân của nợ xấu trong thực hiện Nghị định 67 đã được báo cáo, Thống đốc Lê Minh Hưng cho rằng, “quan trọng nhất là xác định giải pháp khắc phục”. Thực hiện yêu cầu này, cuối năm 2018, Ngân hàng Nhà nước đã cùng các địa phương liên quan triển khai các giải pháp. “Sau khi làm việc với các bộ, ngành, địa phương chúng tôi sẽ có giải pháp căn cơ. Trong thẩm quyền của mình, Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo các ngân hàng cơ cấu lại thời gian trả nợ, tập trung thu nợ trước, thu lãi sau”, Thống đốc nói. 

Trước diễn biến tình hình nợ xấu còn phát sinh, Thống đốc khẳng định, Ngân hàng Nhà nước đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ đề nghị Bộ NN - PTNT rà soát tàu cá, gắn với nguồn lợi thủy sản, ngư trường khai thác, phối hợp với địa phương hướng dẫn khai thác hiệu quả hơn. Đồng thời, đề nghị các tỉnh giúp ngành ngân hàng rà soát các trường hợp, để cơ cấu nợ. Các trường hợp ỷ lại, chây ì sẽ phối hợp với ngân hàng thu hồi nợ. Ngân hàng cũng phối hợp với Bộ NN - PTNT, và các ngành khác để hoàn thiện cơ chế chuyển đổi chủ tài, đặc biệt có giải pháp xử lý chênh lệch giá trị tàu, định giá lại ở thời điểm bàn giao và hướng dẫn, bổ sung giải pháp hỗ trợ lãi suất cho chủ tàu mới với khoản nợ vay. 

Với các giải pháp này, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho rằng, sẽ cần sự phối hợp chặt chẽ với Bộ NN - PTNT, các bộ, ngành liên quan, địa phương để thực hiện hiệu quả. 

Sẽ có tổng kết, đưa ra gói hỗ trợ trực tiếp với ngư dân 

Đề cập đến vấn đề khá thời sự hiện nay liên quan đến đánh bắt xa bờ, ĐBQH Nguyễn Thị Yến (Bà Rịa - Vùng Tàu) hỏi: Tình trạng đánh bắt cá trái phép và việc Ủy ban châu Âu (EC) áp dụng “thẻ vàng” đối với thủy sản Việt Nam, Chính phủ có chính sách, giải pháp đột phá gì để cơ cấu lại phát triển bền vững ngành thủy sản? 

Cùng nội dung chất vấn, ĐBQH Nguyễn Quốc Hận (Cà Mau) nêu vấn đề: “Bộ trưởng có nghĩ rằng việc các hộ bắt thủy hải sản xâm phạm vùng biển nước ngoài là do nguồn lợi thủy hải sản nước ta bị cạn kiệt bởi các hình thức đánh bắt tận diệt. Đề nghị, Bộ trưởng cho biết trách nhiệm của Bộ và giải pháp khắc phục”?. 

Cũng liên quan đến chủ đề đánh bắt xa bờ, ĐBQH Lê Công Nhường (Bình Định) nêu vấn đề: Nghị định 67/2014/NĐ-CP khi triển khai đã bộc lộ một số bất cập, khiến nhiều ngư dân tiên phong bỗng chốc trắng tay, nợ nần dẫn tới lâm vào con đường phải vay tín dụng đen rồi phải bỏ trốn, gia đình tan nát. 

Đại biểu Lê Công Nhường (Bình Định) chất vấn Bộ trưởng Ảnh: Quang Khánh

Báo cáo đánh giá kết quả trữ lượng nguồn lợi hải sản vùng biển Việt Nam giai đoạn 2011 - 2015 có nêu, trữ lượng trung bình ước tính 4,36 triệu tấn, giảm 14% so với giai đoạn 2000 - 2005. Tổng lượng khai thác hải sản khoảng 3,7 triệu tấn trong giai đoạn từ tháng 7.2014 đến tháng 6.2015, vượt khả năng cho phép khai thác trung bình để tái tạo bền vững là 2,45 triệu tấn. “Bộ trưởng có giải pháp gì để hỗ trợ những ngư dân tiên phong thực hiện Nghị định 67 hiện đang là con nợ xấu và có giải pháp gì để giải quyết bài toán dư thừa năng suất khai thác và đóng tàu, thuyền cả nước, như báo cáo của Tổng cục thuỷ sản, gây tốn nhiều chi phí khi vận hành”, ĐB Lê Công Nhường hỏi. 

Trả lời những câu hỏi nêu trên, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường thừa nhận: Vấn đề này có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân như đại biểu nêu là do sản lượng khai thác của chúng ta hiện đang trên mức tiềm năng, mất cân đối. Theo điều tra, hiện trữ lượng của chúng ta trên 4,7 triệu tấn, chúng ta đang khai thác ở mức 3,1- 3,2 triệu tấn. Đồng tình với đại biểu, đây là việc khai thác quá mức, song Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cũng cho biết, “còn có nguyên nhân do số phương tiện đánh bắt của chúng ta quá nhiều, 96.609 chiếc, đặc biệt trong đó có 2.618 chiếc tàu lớn cỡ từ 24m trở lên. “Như vậy là quá đông”, Bộ trưởng nói. 

Bộ trưởng cho biết, Chính phủ sẽ có chỉ đạo trước mắt tập trung giải quyết để không có tình trạng vi phạm này bằng các hướng. Thứ nhất, tăng cường cơ cấu lại theo hướng không tăng sản lượng khai thác nữa, thậm chí giảm sản lượng khai thác mà đi vào chuỗi giá trị chế biến. Cùng là sản lượng trên trăm nghìn tấn, nhưng nếu chuỗi giá trị dài ra thì thu nhập sẽ rất cao, Bộ trưởng nhận định. 

Thứ hai, “chúng ta sẽ không khai thác nhiều nữa mà tập trung nuôi biển”. Đây sẽ là một hướng chiến lược của Việt Nam. “Nếu làm tốt hướng chiến lược này, nay mai trữ lượng thủy sản được nuôi sẽ lớn hơn gấp nhiều trữ lượng khai thác”

Một bài học kinh nghiệm của Kiên Giang là trước đây có những xã 100% người dân đi đánh bắt thì nay 100% ở nhà nuôi cá lồng, trở thành xã xây dựng nông thôn mới. Đây là mô hình tốt cần được nhân rộng lên. Chủ trương chiến lược là nuôi không chỉ cá mà nuôi nhiều loại khác. Theo Bộ trưởng, “chúng ta có tiềm năng rất lớn và Chính phủ có chiến lược để tới đây tập trung triển khai theo hướng này”. 

Bộ trưởng tin tưởng, tới đây, bằng nhiều biện pháp như khai thác đúng mức, tập trung chế biến, chuyển hướng sang chăn nuôi, tìm các sinh kế khác cho ngư dân, sẽ thiết lập được ngành kinh tế khai thác biển một cách bền vững.  

Liên quan đến Nghị định 67, Bộ trưởng cho biết, Nghị định được ban hành trong bối cảnh rất cần chính sách hỗ trợ ngư dân vươn ra ngư trường xa nhằm bảo đảm phát triển kinh tế biển cùng với bảo đảm an ninh - quốc phòng. Ra đời trong bối cảnh đó, Nghị định 67 bao gồm 5 nhóm nội dung lớn, trong đó có hỗ trợ, khuyến khích, bảo hiểm cho thuyền viên yên tâm ra khơi bám biển; hỗ trợ trang thiết bị ngư cụ và các phương tiện đánh bắt để ngư dân yên tâm chia sẻ bớt một phần; hỗ trợ công tác hậu cần để bảo đảm các chuyến ra khơi của ngư dân có lời, bảo đảm khuyến khích ngư dân tiếp tục bám biển và hỗ trợ để phát tiển phương tiện mới, mà chúng ta vẫn nói là "tàu 67". 

Thực hiện phát triển phương tiện mới theo Nghị định 67, Bộ trưởng cho biết, đến nay đã phát triển được 1.030 phương tiện với công suất lớn từ 800 mã lực trở lên bằng ba vật liệu: sắt, composite và gỗ. Riêng tàu sắt, quả thật là loại hình đóng mới, chiếm 34,2% tổng số 1.030 tàu. Nhược điểm là do đây là loại tàu mới nên trong quá trình đóng loại tàu này xảy ra chuyện 40 tàu hỏng. Câu chuyện ở đây là, “hiện nay có 55 tàu được đóng theo Nghị định 67 không ra khơi được, do những nguyên nhân: đánh bắt không hiệu quả, có hai đối tượng chủ tàu chết; một số tàu không có điều kiện vận hành hoạt động tàu nên muốn chuyển đổi và một số không tích cực tham gia do không hiệu quả, dẫn tới có hơn 30% đến kỳ bảo dưỡng không đi bảo dưỡng. 


Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường trả lời chất vấn
Ảnh: Quang Khánh

Trước tình hình này, Bộ trưởng cho biết, đã tham mưu cho Chính phủ để có các quyết sách. Trước hết, xác định rõ tiềm năng ngư trường không khuyến khích đóng tàu nhiều nữa; phương thức đầu tư, hỗ trợ tín dụng để đóng tàu, tức cơ chế khuyến khích lãi suất từ 5-7% tùy thuộc vào khối lượng và giá trị của tàu, tỏ ra không còn phù hợp, dẫn tới có những trường hợp cá biệt có tâm lý ỷ lại, hơn nữa việc theo đuổi ngân hàng khó. Vì vậy, “Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định 17/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2014/NĐ-CP, trong đó không khuyến khích việc đóng “tàu 67” nữa, mà ai có đủ điều kiện ra khơi, có kinh nghiệm, tiềm lực thì tự đóng và Nhà nước hỗ trợ một lần tối đa 300%, trị giá 6-8 tỷ đồng tùy loại công suất. Từ năm 2018 đến nay, chúng ta có 40 con tàu đóng theo loại này”. Chỉ có như vậy, ngư dân mới khai thác hiệu quả. 

Theo Bộ trưởng, phản hồi từ ngư dân đối với chính sách này là 30 trong số 40 con tàu đã đóng xong và đi vào hoạt động mà không có "điều tiếng" gì. Thủ tướng Chính phủ cũng chỉ đạo 28 tỉnh, thành tổng kết sâu sắc và trong tháng 12 tới, “Chính phủ sẽ có tổng kết để có đưa ra các gói hỗ trợ trực tiếp, nhằm hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ ngư dân”.     

Là năm khó khăn nhất, nhưng các trục sản phẩm đều đáp ứng yêu cầu

Đề cập đến những vấn đề không mới, như giải cứu nông sản, được mùa, mất giá, được giá mất mùa, thậm chí “mất cả mùa lẫn giá”, ĐBQH Nguyễn Quốc Hận (Cà Mau) đề nghị Bộ trưởng cho biết giải pháp khắc phục?

Đại biểu Nguyễn Quốc Hận (Cà Mau) chất vấn Bộ trưởng Ảnh: Quang Khánh

Bộ trưởng Bộ NN - PTNT Nguyễn Xuân Cường cho biết, “tuy là năm khó khăn nhất, nhưng trên các trục sản phẩm lớn đến giờ phút này chúng ta đều tổ chức liên kết, về cơ bản đáp ứng được giữa sản phẩm và phần chế biến cơ bản”. Một trong những chỉ tiêu khó khăn nhất là cạnh tranh thương mại quyết liệt, nhưng chúng ta cũng đạt được mức độ nhất từ trước tới nay, cho thấy tất cả các trục sản phẩm, nhất là 10 sản phẩm trụ cột xuất khẩu 1 tỷ USD, đều đáp ứng được yêu cầu cơ bản. Còn trục sản phẩm nhỏ, quy mô ở cấp độ tỉnh, “rơi rụng” từng thời điểm, “chắc chắn sẽ có đại biểu chất vấn về thanh long, dưa hấu… thì thực tế là về tổng thể chúng ta đạt được, nhưng phải tiếp tục... Vừa qua Bắc Giang vẫn làm tốt… Tất cả cùng đồng hành, tôi tin rằng sản phẩm quê nhà cũng sẽ bán được, Bộ trưởng khẳng định.

Về giải pháp khắc phục tình trạng “được mùa mất giá”, thậm chí “mất cả mùa mất cả giá”, mất giá kéo dài, Bộ trưởng cho biết, thời gian qua đã có những chuyển biến tích cực trong việc tổ chức sản xuất theo chuỗi liên kết. Tới đây, cần tiếp tục rà soát phát huy lợi thế của địa phương, tổ chức liên kết sản xuất tuân thủ theo quy luật thị trường. Đặc biệt cần tập trung vào khâu chế biến, nhất là chế biến sâu và tổ chức thị trường. Tiến hành rà soát lại các vùng sản xuất để giảm diện tích các loại cây trồng kém hiệu quả, hoặc mất cân đối dẫn đến thừa nguồn cung, chuyển sang các loại cây trồng khác đem lại hiệu quả cao hơn, Bộ trưởng nói.

"Ngắn gọn, đúng trọng tâm, trách nhiệm"

Đúng 8h, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân phát biểu khai mạc phiên chất vấn và trả lời chất vấn.


Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân phát biểu khai mạc phiên chất vấn và trả lời chất vấn
Ảnh: Quang Khánh

Phát biểu khai mạc phiên chất vấn, Chủ tịch QH đề nghị các đại biểu tập trung nêu câu hỏi ngắn gọn, đúng trọng tâm; các Bộ trưởng, Trưởng ngành trả lời thẳng thắn, đặc biệt thể hiện trách nhiệm và có giải pháp cụ thể. 

Ảnh: Quang Khánh
Tại kỳ họp này, Quốc hội tiếp tục áp dụng cách thức tiến hành chất vấn như các kỳ họp trước, mỗi Bộ trưởng có 5 phút báo cáo trước phiên chất vấn; mỗi lượt chất vấn có từ 3 - 5 đại biểu đặt câu hỏi, mỗi đại biểu hỏi 1 phút, Bộ trưởng trả lời không quá 3 phút đối với 1 nội dung chất vấn. Đề nghị các vị ĐBQH nêu câu hỏi ngắn gọn, đúng phạm vi chất vấn; trong quá trình chất vấn, đại biểu có thể tranh luận khi thấy chưa thỏa đáng, thời gian tranh luận không quá 2 phút. Các thành viên Chính phủ, Trưởng ngành trả lời thẳng thắn, đúng trọng tâm câu hỏi và có giải pháp, lộ trình cụ thể để thực hiện. Kết thúc phiên chất vấn, QH sẽ ban hành nghị quyết để Chính phủ, các bộ, ngành triển khai thực hiện và làm cơ sở để các cơ quan QH, ĐBQH, cử tri và Nhân dân theo dõi, giám sát.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân

Chủ tịch QH mong muốn, phiên chất vấn sẽ diễn ra dân chủ, sôi nổi, đáp ứng kỳ vọng của cử tri và nhân dân. Đặc biệt, trong 3 ngày diễn ra phiên chất vấn sẽ có sự tham dự của 86 học viên Lớp bồi dưỡng kiến thức mới cho cán bộ quy hoạch cấp chiến lược Khóa XIII.

Tiếp đó, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường trả lời chất vấn của các ĐBQH nhóm vấn đề thứ nhất liên quan tới lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.

Các ĐBQH Phạm Thị Thu Trang (Quảng Ngãi), Châu Chắc (An Giang), Phạm Văn Tuân (Thái Bình), Nguyễn Ngọc Phương (Quảng Bình), Bùi Văn Xuyền (Thái Bình)... nêu chất vấn về: Tình hình, giải pháp tăng cường thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông dân, nông thôn; giải pháp căn cơ, đột phá để bảo đảm giá lúa, xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam; giải pháp thúc đẩy sản xuất, tạo việc làm, giải quyết vấn đề môi trường trong xây dựng nông thôn mới; giải pháp nâng cao kỹ năng, kỹ thuật đánh bắt hải sản; nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã; nâng cao hiệu quả hoạt động của mạng lưới thú y cơ sở; giải pháp khắc phục tình trạng được mùa mất giá; mất cả mùa mất cả giá; thậm chí mất giá kéo dài, ví dụ như cây cà phê Tây Nguyên... 

Trả lời các chất vấn của đại biểu về giải pháp thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường nêu bật vai trò hạt nhân trong liên kết sản xuất lớn. Cụ thể, trong 3 năm qua, số doanh nghiệp đầu tư trực tiếp vào lĩnh vực này đã tăng 3 lần, từ hơn 3.000 lên hơn 11.000 doanh nghiệp, trải đều khắp các vùng miền trong cả nước, trong đó có nhiều doanh nghiệp lớn đã đầu tư vào lĩnh vực này để nâng giá trị sản xuất nông nghiệp... 

Tuy nhiên, Bộ trưởng cũng thừa nhận, con số này vẫn còn ít, chưa đáp ứng được yêu cầu. “Bộ sẽ tiếp tục tập trung đẩy mạnh trong thời gian tới”, Bộ trưởng nói.


Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường trả lời chất vấn của các ĐBQH
Ảnh: Quang Khánh

Liên quan đến việc nâng cao giá trị lúa gạo, Bộ trưởng nhấn mạnh giải pháp cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp, trong đó tập trung vào sản xuất các giống lúa mới (hữu cơ, tinh túy hơn)... Về xây dựng nông thôn mới, Bộ trưởng khẳng định, 10 năm qua chúng ta đã đạt được những kết quả lịch sử, tuy nhiên so với yêu cầu, nguyện vọng của thực tế thì “vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu”, nhất là vấn đề về môi trường (sản xuất, tự nhiên), hình thành sản xuất lớn, sản xuất liên kết, tái cơ cấu sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ... “Tới đây, Bộ sẽ phối hợp với các cơ quan liên quan, nghiên cứu, đề xuất các giải pháp để khắc phục các vấn đề này”, Bộ trưởng cho biết.

Về khai thác hải sản, Bộ trưởng cho biết, đối với những tàu lớn, tàu hậu cần hiện đã được trang bị nhiều thiết bị hiện đại, phù hợp với việc đánh bắt; nhưng đối với những tàu dưới 15m thì còn khó khăn cần tập trung khắc phục trong thời gian tới.

Đại biểu Ngô Thanh Danh (Đắk Nông) tranh luận chất vấn Bộ trưởng Ảnh: Quang Khánh

Chưa đồng tình với trả lời của Bộ trưởng, ĐB Ngô Thanh Danh (Đắk Nông) tranh luận: Giá tiêu còn 40 nghìn/kg, giá cà phê còn trên 30 nghìn/kg, và đã kéo dài nhiều năm… Bộ trưởng cần quan tâm để có giải pháp xử lý hiệu quả…;

Theo đó, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường sẽ trả lời chất vấn của các đại biểu Quốc hội nhóm vấn đề thứ nhất liên quan tới lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn .

Nội dung chất vấn và trả lời chất vấn gồm: Chất lượng, hiệu quả chương trình quốc gia về xây dựng nông thôn mới; Công tác quy hoạch trồng trọt, chăn nuôi với thị trường tiêu thụ; Ứng dụng khoa học công nghệ cao trong nông nghiệp; công tác xuất khẩu nông sản, thủy sản; Công tác phòng, chống và kiểm soát dịch bệnh cho gia súc, gia cầm và chính sách hỗ trợ cho các hộ dân bị ảnh hưởng và hoạt động khai thác, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản; Công tác quản lý, hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, khắc phục tồn tại trong khai thác, đánh bắt hải sản trên biển.

Trong quá trình Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường trả lời chất vấn, các Bộ trưởng, Trưởng ngành: Công thương, Y tế, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Khoa học và Công nghệ, Thông tin và Truyền thông, Giao thông Vận tải, Lao động, Thương binh và Xã hội; Quốc phòng, Ngân hàng Nhà nước cùng tham gia trả lời chất vấn, giải trình về những vấn đề có liên quan.

* Trước đó, gặp gỡ, trao đổi với báo chí về các nhóm vấn đề sẽ đưa ra chất vấn và trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ Tám, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng thư ký QH, Chủ nhiệm VPQH Nguyễn Hạnh Phúc cho biết, QH sẽ dành trọn 3 ngày (từ ngày 6 - 8.11) để tiến hành chất vấn và trả lời chất vấn của ĐBQH. Theo đó, 4 nhóm vấn đề sẽ đưa ra chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp này thuộc lĩnh vực: Nội vụ; Công thương; Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; Thông tin và Truyền thông.

Cụ thể, nhóm vấn đề thuộc lĩnh vực nội vụ tập trung vào: Việc sắp xếp, tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, nhất là việc sắp xếp cán bộ, công chức sau khi sáp nhập các đơn vị hành chính cấp huyện, xã; công tác tuyển dụng, bổ nhiệm, luân chuyển, bồi dưỡng, đào tạo, thi nâng ngạch cán bộ, công chức và viên chức; công tác đánh giá cán bộ, công chức và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. Trách nhiệm trả lời chính thuộc về Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình, Bộ trưởng các Bộ: Tư pháp, Tài chính, Giáo dục và Đào tạo, Y tế cùng tham gia trả lời chất vấn, giải trình về những vấn đề có liên quan.

Nhóm vấn đề thuộc lĩnh vực công thương tập trung vào: Công tác quản lý, điều tiết điện lực, việc thực hiện quy hoạch phát triển điện lực, quy hoạch năng lượng mới và năng lượng tái tạo; hoạt động xúc tiến thương mại, phát triển thị trường ngoài nước, thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ, thương mại điện tử và kinh tế số, công tác quản lý thị trường, phòng chống gian lận thương mại, quản lý cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng; phát triển cơ khí chế tạo trong nước, tỷ lệ nội địa hóa, đổi mới công nghệ trong lĩnh vực công nghiệp. Trách nhiệm trả lời chính thuộc về Bộ trưởng Bộ Công thương. Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng, Bộ trưởng các Bộ, ngành: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Tài nguyên và Môi trường, Khoa học và Công nghệ, Thông tin và Truyền thông, Công an, Ngoại giao, Thanh tra Chính phủ cùng tham gia trả lời chất vấn, giải trình về những vấn đề có liên quan.

Nhóm vấn đề thuộc lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn tập trung vào: Chất lượng, hiệu quả Chương trình Quốc gia về xây dựng nông thôn mới, công tác quy hoạch trồng trọt, chăn nuôi gắn với thị trường tiêu thụ, ứng dụng khoa học công nghệ cao trong nông nghiệp, công tác xuất khẩu nông sản, thủy sản; Công tác phòng, chống và kiểm soát dịch bệnh cho gia súc, gia cầm và chính sách hỗ trợ cho các hộ dân bị ảnh hưởng; hoạt động khai thác, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản; công tác quản lý, hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, khắc phục tồn tại trong khai thác, đánh bắt hải sản trên biển. Trách nhiệm trả lời chính thuộc về Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng, Bộ trưởng các Bộ, ngành: Công thương, Y tế, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, Khoa học và Công nghệ, Thông tin và Truyền thông, Giao thông - Vận tải, Lao động, Thương binh và Xã hội, Quốc phòng cùng tham gia trả lời chất vấn, giải trình về những vấn đề có liên quan.

Nhóm vấn đề thuộc lĩnh vực thông tin và truyền thông tập trung vào: Công tác quản lý báo chí, quản lý giấy phép trong lĩnh vực báo chí, phát thanh, truyền hình, cấp, thu hồi thẻ nhà báo; công tác quản lý thông tin điện tử, nhất là các trang thông tin điện tử, mạng xã hội, quản lý quảng cáo trên báo chí, trên môi trường mạng; ứng dụng công nghệ thông tin và xây dựng Chính phủ điện tử. Trách nhiệm trả lời chính là Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông. Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam, Bộ trưởng các Bộ: Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Khoa học và Công nghệ, Tài chính, Nội vụ, Công an; Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ cùng tham gia trả lời chất vấn, giải trình về những vấn đề có liên quan.

A. Phương - Đ. Thủy - H. Ngọc - T. Chi

tin cùng chuyên mục