Thứ tư, ngày 28/02/2024 03:51:57 ĐT:(08) 3932 0692 - 3932 1636 - Fax: (08) 3932 5247 Email: hoiluatgiatvpl@gmail.com

Những đạo luật lớn sẽ tác động mạnh mẽ tới kinh tế xã hội và hoạt động đầu tư kinh doanh năm 2024


Cập nhật: 10h48' ngày 11/02/2024


 (Pháp lý) - Năm 2024 được dự báo sẽ còn nhiều khó khăn, thách thức. Do đó, bên cạnh sự kỳ vọng các chính sách điều hành linh hoạt, kịp thời và hiệu quả từ phía Chính phủ để ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, cộng đồng doanh nghiệp còn trông đợi rất nhiều vào những đạo luật lớn được Quốc hội sửa đổi, bổ sung để thúc đẩy kinh tế phát triển và tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho môi trường đầu tư kinh doanh.

picture1-1705907536.png

Kỳ họp bất thường lần thứ năm, Quốc hội khoá XV đã thông qua 2 đạo luật đặc biệt quan trọng, có tác động sâu rộng tới kinh tế xã hội, hoạt động đầu tư kinh doanh của cộng đồng DN – đó là Luật Đất đai và Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi, bổ sung)

 

anh-man-hinh-2024-01-22-luc-150424-1705911402.png

Với nhiều sửa đổi quan trọng, Luật Đấu thầu (sửa đổi năm 2023) sẽ là cơ sở pháp lý tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp về đấu thầu trong nhiều lĩnh vực, đồng thời nâng cao tính cạnh tranh, ngăn chặn tiêu cực trong hoạt đồng đấu thầu.

Cụ thể, Luật đã bổ sung quy định về hoạt động lựa chọn nhà thầu để thực hiện bao gồm: Các gói thầu thuộc dự án đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước theo quy định của Luật Doanh nghiệp và doanh nghiệp do doanh nghiệp Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

Luật đã luật hóa một số trường hợp lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt đã được quy định tại Quyết định số 17/2019/ QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ được áp dụng hình thức chỉ định thầu với các gói thầu như: Gói thầu vận chuyển hàng dự trữ quốc gia để cứu trợ, viện trợ trong trường hợp phải giao hàng ngay; gói thầu thuê kho lưu giữ hàng tạm giữ, gói thầu thuê vận chuyển, bốc xếp hàng tạm giữ tại các cảng biển, địa điểm kiểm tra hàng hóa tập trung trong trường hợp chỉ có duy nhất một đơn vị cung cấp dịch vụ trong cảng...

Bên cạnh đó, Luật cũng bổ sung quy định cụ thể về gói thầu áp dụng hình thức chào hàng cạnh tranh được áp dụng đối với gói thầu có giá gói thầu không quá 05 tỷ đồng gồm: Gói thầu dịch vụ phi tư vấn thông dụng, đơn giản; Gói thầu mua sắm hàng hóa thông dụng, sẵn có trên thị trường với đặc tính kỹ thuật được tiêu chuẩn hóa và tương đương nhau về chất lượng; Gói thầu xây lắp công trình đơn giản đã có thiết kế bản vẽ thi công được phê duyệt; Gói thầu hỗn hợp cung cấp hàng hóa và xây lắp.

1-1705901148.png

Phó Thủ tướng Lê Minh Khái, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà cùng các thành viên Chính phủ và đại biểu khách mời tại phiên khai mạc kì họp thứ sáu, Quốc hội khóa XV.

Luật Đấu thầu 2023 cũng bổ sung quy định chi tiết về nội dung giá gói thầu trong kế hoạch lựa chọn nhà thầu. Cụ thể, giá gói thầu là giá trị của gói thầu được phê duyệt trong kế hoạch lựa chọn nhà thầu bao gồm toàn bộ chi phí để thực hiện gói thầu, kể cả chi phí dự phòng, phí, lệ phí và thuế. Đối với gói thầu chia phần thì ghi rõ giá gói thầu và giá ước tính cho từng phần trong giá gói thầu; Đối với gói thầu áp dụng tùy chọn mua thêm quy định tại khoản 8 Điều 39 Luật Đấu thầu 2023, giá gói thầu không bao gồm giá trị của tùy chọn mua thêm.

Đặc biệt, về đấu thầu tập trung, mua thuốc, hóa chất, thiết bị y tế, về lựa chọn nhà thầu cung cấp hóa chất, thiết bị y tế, Luật đã bao quát các trường hợp mua hóa chất, thiết bị y tế, trong đó đã quy định rõ việc chuyển giao quyền quản lý sử dụng/chuyển giao quyền sở hữu trong từng trường hợp mua sắm cụ thể...

Về quy trình, thủ tục đấu thầu, Luật đã cải cách, đơn giản hóa quy trình, thủ tục đấu thầu theo hướng đẩy mạnh đấu thầu qua mạng nhằm tăng cường tính công khai minh bạch, ngăn chặn các hành vi thông đồng, gian lận trong đấu thầu; cắt bỏ một số thủ tục thẩm định, phê duyệt ở cấp trung gian.

Bên cạnh đó, liên quan đến 9 nhóm hành vi bị cấm trong hoạt động đấu thầu tại Điều 16, Luật đã bổ sung thêm mục đích của hành vi trong quy định cấm hành vi thông thầu; bổ sung quy định cấm hành vi vi phạm pháp luật về an toàn, an ninh mạng nhằm can thiệp, cản trở việc đấu thầu qua mạng...

Với hàng loạt các sửa đổi, bổ sung mang tính đột phá, tạo hành lang pháp lý rõ ràng, minh bạch, Luật Đấu thầu (sửa đổi) đem đến nhiều kỳ vọng sẽ giải quyết dứt điểm được các tồn tại, hạn chế trong hoạt động đấu thầu thời gian qua.

 

anh-man-hinh-2024-01-22-luc-223616-1705937808.png

Luật Giá (sửa đổi năm 2023) có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2024. Theo đó, Luật sửa đổi lần này đã có nhiều điểm mới, khắc phục một số hạn chế bất cập của luật hiện hành, đặc biệt là vấn đề về thẩm định giá.

Về phạm vi điều chỉnh, Luật bổ sung quy định cơ sở dữ liệu về giá, theo đó Luật quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân, người tiêu dùng trong lĩnh vực giá, thẩm định giá; hoạt động quản lý, điều tiết giá của Nhà nước; tổng hợp, phân tích, dự báo giá thị trường; cơ sở dữ liệu về giá; thẩm định giá; thanh tra chuyên ngành về giá, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giá, thẩm định giá.

Bổ sung quy định về chứng thư thẩm định giá là văn bản do doanh nghiệp thẩm định giá, chi nhánh doanh nghiệp thẩm định giá phát hành sau khi kết thúc hoạt động thẩm định giá để thông báo cho khách hàng, các tổ chức, cá nhân có liên quan (nếu có) được ghi trong hợp đồng thẩm định giá về giá trị tài sản thẩm định giá và những nội dung chính của báo cáo thẩm định giá.

2-1705901248.png

Luật đấu thầu (sửa đổi) và Luật Giá (sửa đổi) kỳ vọng sẽ góp phần xây dựng thị trường minh bạch, tăng tính cạnh tranh.

Luật Giá (sửa đổi) cũng quy định cụ thể về doanh nghiệp thẩm định giá, điều kiện cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ thẩm định giá; quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp thẩm định giá; chứng thư thẩm định giá và báo cáo thẩm định giá; quyền, nghĩa vụ của khách hàng thẩm định giá và tổ chức, cá nhân có liên quan được ghi trong hợp đồng thẩm định giá; xác định giá dịch vụ thẩm định giá; phương thức giải quyết tranh chấp về hợp đồng thẩm định giá...

Luật cũng sửa đổi, bổ sung các hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực giá, thẩm định giá, như: Loan tin, đưa tin không đúng sự thật, không chính xác về tình hình kinh tế - xã hội gây nhiễu loạn thông tin thị trường, giá hàng hóa, dịch vụ; lợi dụng tình trạng khẩn cấp, sự cố, thảm họa, thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh để tăng giá bán hàng hóa, dịch vụ không phù hợp với biến động của giá thành toàn bộ so với điều kiện bình thường nhằm trục lợi; ký chứng thư thẩm định giá, báo cáo thẩm định giá không đúng với lĩnh vực chuyên môn, thông báo của cơ quan Nhà nước về lĩnh vực được phép hành nghề của doanh nghiệp thẩm định giá; ký chứng thư thẩm định giá, báo cáo thẩm định giá khi không duy trì các điều kiện đăng ký hành nghề thẩm định giá quy định...

Đánh giá về Luật Giá (sửa đổi), nhiều ý kiến cho rằng, những quy định trong luật đã cơ bản tháo gỡ được các vấn đề khúc mắc trong thẩm định giá, tạo điều kiện cho cơ quan quản lý Nhà nước triển khai hiệu quả, góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng thị trường lành mạnh, đáp ứng yêu cầu phát triển, hội nhập quốc tế.

 

anh-man-hinh-2024-01-22-luc-222530-1705937157.png

Luật Giao dịch điện tử (sửa đổi) sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2024. Đáng chú ý, với nhiều quy định mới, Luật Giao dịch điện tử (sửa đổi) được kỳ vọng tạo cơ sở pháp lý đầy đủ và thuận lợi thúc đẩy chuyển đổi số hoạt động đầu tư kinh doanh.

Thứ nhất, về phạm vi điều chỉnh, Luật Giao dịch điện tử giúp nhiều luật hiện nay có ngay hiệu lực thi hành trên môi trường số. Cụ thể, Luật nào trước đây chưa quy định giao dịch được thực hiện bằng phương tiện điện tử thì được áp dụng theo quy định của Luật Giao dịch điện tử; Giao dịch điện tử có giá trị tương đương và có thể sử dụng thay thế giao dịch truyền thống; Các cơ quan, tổ chức không thể viện dẫn việc chưa có quy định để từ chối giá trị pháp lý của giao dịch điện tử.

Thứ hai, luật mới đã kế thừa, sửa đổi, bổ sung khái niệm “chữ ký điện tử”, “chữ ký số”, “dấu thời gian”, “hợp đồng điện tử”, “dữ liệu số”, “dữ liệu chủ”, “môi trường điện tử”, “chứng thư điện tử”, “dịch vụ chứng thực chữ ký số”, “người trung gian”...

3-1705901248.png

Chuyển đổi số trong hoạt động đầu tư kinh doanh có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế nói chung, cộng đồng doanh nghiệp nói riêng

Việc đưa ra khái niệm chứng thư điện tử và đảm bảo giá trị pháp lý cho hình thức này là một bước đột phá lớn để thúc đẩy các hoạt động giao dịch điện tử trong các ngành, lĩnh vực và xã hội diễn ra toàn trình.

Về chữ ký điện tử, Luật Giao dịch điện tử cơ bản không thay đổi về nguyên tắc, chỉ khái quát hóa, sửa đổi, bổ sung quy định cụ thể về chữ ký điện tử, chữ ký điện tử chuyên dùng, chữ ký số. Công nhận tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử nước ngoài; công nhận chữ ký điện tử, chứng thư chữ ký điện tử nước ngoài....

Về giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử là việc sử dụng thông điệp dữ liệu để tiến hành một phần hoặc toàn bộ giao dịch trong quá trình giao kết hợp đồng điện tử. Luật quy định giao Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành quy định về giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử trong lĩnh vực thuộc phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được phân công, phù hợp với điều kiện thực tiễn...

Đăc biệt, luật quy định chi tiết cụ thể hơn những nội dung và hành vi bị nghiêm cấm, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tuân thủ luật. Trong đó gồm 8 hành vi bị nghiêm cấm trong giao dịch điện tử: Lợi dụng giao dịch điện tử xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; Cản trở hoặc ngăn chặn trái pháp luật quá trình tạo ra, gửi, nhận, lưu trữ thông điệp dữ liệu hoặc có hành vi khác nhằm phá hoại hệ thống thông tin phục vụ giao dịch điện tử; Thu thập, cung cấp, sử dụng, tiết lộ, hiển thị, phát tán, kinh doanh trái pháp luật thông điệp dữ liệu; Xóa, hủy, giả mạo, sao chép, làm sai lệch, di chuyển trái pháp luật một phần hoặc toàn bộ thông điệp dữ liệu; Tạo ra thông điệp dữ liệu nhằm thực hiện hành vi trái pháp luật; Gian lận, giả mạo, chiếm đoạt hoặc sử dụng trái pháp luật tài khoản giao dịch điện tử, chứng thư điện tử, chứng thư chữ ký điện tử, chữ ký điện tử; Cản trở việc lựa chọn thực hiện giao dịch điện tử; Hành vi khác bị nghiêm cấm theo quy định của luật.

Với hàng loạt các sửa đổi, bổ sung, nhiều ý kiến cho rằng, Luật Giao dịch điện tử (sửa đổi) khi chính thức có hiệu lực sẽ giúp hoàn thiện hành lang pháp lý cho các hoạt động giao dịch trên không gian mạng, mở rộng phạm vi áp dụng của hoạt động giao dịch điện tử tới tất cả các hoạt động của đời sống xã hội. Đặc biệt là với điểm mới bảo đảm giá trị pháp lý của chữ ký điện tử, chứng thực điện tử, hợp đồng điện tử nói riêng và giá trị pháp lý của các giao dịch điện tử nói chung sẽ góp phần khơi thông điểm nghẽn và tạo điều kiện thuận lợi giúp các cơ quan Nhà nước, các doanh nghiệp và người dân trong chuyển đổi số.

 

anh-man-hinh-2024-01-22-luc-220857-1705936401.png

Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi) chính thức được Quốc hội thông qua ngày 18/1/2024, đây là dự án Luật có nhiều nội dung chuyên sâu, có tác động trực tiếp đến chính sách tài chính, tiền tệ, ổn định kinh tế vĩ mô. Đáng chú ý, Luật đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định nhằm tăng cường các biện pháp quản lý, kiểm soát hoạt động của các tổ chức tín dụng; chống thao túng, lợi ích nhóm; ngăn chặn sở hữu chéo, doanh nghiệp “sân sau” của tổ chức tín dụng; thiết kế các quy định bảo đảm sự an toàn, lành mạnh và ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng:

Quy định chặt chẽ về tiêu chuẩn với người quản lý ngân hàngLuật Các tổ chức tín dụng sửa đổi đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định liên quan đến tổ chức, quản trị, điều hành của tổ chức tín dụng nhằm nâng cao năng lực quản trị, điều hành của các tổ chức tín dụng và khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong quá trình hoạt động của tổ chức tín dụng; Tăng cường trách nhiệm của thành viên HĐQT; Sửa đổi, bổ sung các quy định về thành viên Hội đồng quản trị độc lập của tổ chức tín dụng là công ty cổ phần theo hướng tăng số lượng thành viên Hội đồng quản trị độc lập, tăng tỷ lệ thành viên là thành viên độc lập và thành viên không phải là người điều hành của tổ chức tín dụng trong Hội đồng quản trị để tách bạch chức năng quản trị, điều hành cũng như bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cổ đông nhỏ lẻ...  Theo đó, Luật các tổ chức tín dụng (sửa đổi) quy định rất chặt chẽ về tiêu chuẩn với người quản lý ngân hàng, đặc biệt, Luật quy định rất chặt về những trường hợp không cùng đảm nhiệm chức vụ theo quy định tại Điều 43.

Tuy nhiên, đối với thành viên độc lập của Hội đồng quản trị, Luật các tổ chức tín dụng (sửa đổi) đã có sự điều chỉnh về việc không cùng đảm nhiệm chức vụ của nhân sự này nhằm giải quyết khó khăn của tổ chức tín dụng trong việc tìm kiếm các ứng viên là thành viên độc lập đủ điều kiện theo quy định của Luật. Theo đó, sửa đổi theo hướng thành viên độc lập của Hội đồng quản trị của tổ chức tín dụng không được đồng thời đảm nhiệm một trong các chức vụ sau đây: Người điều hành của tổ chức tín dụng đó; Người quản lý, người điều hành của tổ chức tín dụng khác, người quản lý của nhiều hơn 02 doanh nghiệp khác; Thành viên Ban kiểm soát của tổ chức tín dụng khác, doanh nghiệp khác.

Giảm tỷ lệ sở hữu cổ phần tổ chức tín dụng: Cụ thể, theo khoản 1, 2, 3 trong Điều 63, tỷ lệ sở hữu tối đa với cổ đông cá nhân là 5% (không thay đổi), với tổ chức là 10% (giảm từ 15%) và cổ đông cùng người liên quan là 15% (giảm từ 20%). Quy định này không áp dụng với một số trường hợp: Sở hữu cổ phần tại công ty con, công ty liên kết là tổ chức tín dụng quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 111 của Luật này; Sở hữu cổ phần nhà nước tại tổ chức tín dụng cổ phần hóa; Sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài.

Bên cạnh đó, Khoản 7 trong Điều 63 cũng quy định Nhà đầu tư nước ngoài được mua cổ phần của tổ chức tín dụng Việt Nam. Chính phủ sẽ quy định tổng mức sở hữu cổ phần tối đa của các nhà đầu tư nước ngoài, tỷ lệ sở hữu cổ phần tối đa của một nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, tỷ lệ sở hữu cổ phần tối đa của một nhà đầu tư nước ngoài và người có liên quan của nhà đầu tư đó tại một tổ chức tín dụng Việt Nam.

Theo quy định Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi), một cổ đông là cá nhân không được sở hữu cổ phần vượt quá 5% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng; Một cổ đông là tổ chức không được sở hữu cổ phần vượt quá 10% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng; Cổ đông và người có liên quan của cổ đông đó không được sở hữu cổ phần vượt quá 15% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng. Cổ đông lớn của một tổ chức tín dụng và người có liên quan của cổ đông đó không được sở hữu cổ phần từ 5% vốn điều lệ trở lên của một tổ chức tín dụng khác.
4-1705901248.png

Ảnh minh hoạ

Xác định rõ, mở rộng hơn người có liên quan đến tổ chức tín dụng: Để đảm bảo an toàn trong hoạt động tổ chức tín dụng, minh bạch hóa việc sở hữu cổ phần của cổ đông và những người có liên quan của cổ đông đó, hạn chế tình trạng thao túng hoạt động của các tổ chức tín dụng, luật đã bổ sung một số nhóm người có liên quan bao gồm: công ty con của công ty con của tổ chức tín dụng; ông bà nội, ông bà ngoại, cháu nội, cháu ngoại, cô, dì, chú, cậu, bác ruột, cháu ruột, cô ruột, dì ruột, cậu ruột và ngược lại. Đồng thời, Luật cũng quy định xác định rõ hơn đối tượng cá nhân được ủy quyền đại diện cho tổ chức, cá nhân là cá nhân được ủy quyền đại diện phần vốn góp cho tổ chức, cá nhân. Quy định nêu trên đã bảo đảm sự rõ ràng trong việc xác định người có liên quan.

Ngoài ra, Luật cũng đã sửa đổi, điều chỉnh quy định về giới hạn cấp tín dụng đối với một khách hàng và người có liên quan theo hướng giảm tỉ lệ cho vay đối với 1 khách hàng hoặc 1 nhóm khách hàng liên quan. Cụ thể, theo quy định Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi) các ngân hàng chỉ có thể cho vay tối đa 10% tổng vốn chủ sở hữu (VCSH) ngân hàng đối với một khách hàng (giảm từ mức 15% trước đây) và 15% tổng VCSH của ngân hàng đối với một nhóm khách hàng và người có liên quan (giảm từ mức 25% trước đây). Đáng chú ý, Luật cũng quy định trường hợp cho vay vượt quá mức này phải được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Công khai thông tin của cổ đông và người có liên quan đến tổ chức tín dụng: Theo Luật Tổ chức tín dụng (sửa đổi), cổ đông sở hữu từ 01% vốn điều lệ trở lên của tổ chức tín dụng phải cung cấp cho tổ chức tín dụng các thông tin của cá nhân và người liên quan gồm: Họ và tên; số định danh cá nhân; quốc tịch, số hộ chiếu, ngày cấp, nơi cấp của cổ đông là người nước ngoài; số Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy tờ pháp lý tương đương của cổ đông là tổ chức; ngày cấp, nơi cấp của giấy tờ này. Bên cạnh đó, cổ đông sở hữu từ 01% vốn điều lệ trở lên cũng phải cung cấp thông tin về số lượng, tỷ lệ sở hữu cổ phần của mình và người có liên quan tại tổ chức tín dụng đó.

Các cổ đông sở hữu từ 01% vốn điều lệ phải gửi tổ chức tín dụng bằng văn bản cung cấp thông tin lần đầu và khi có thay đổi các thông tin này trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày phát sinh hoặc có thay đổi thông tin. Riêng về tỷ lệ sở hữu, cổ đông sở hữu trên 1% vốn điều lệ chỉ phải công bố thông tin khi có mức thay đổi về tỷ lệ sở hữu cổ phần của mình, tỷ lệ sở hữu cổ phần của mình và người có liên quan từ 01% vốn điều lệ trở lên so với lần cung cấp liền trước.

Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi) cũng yêu cầu Tổ chức tín dụng phải công bố công khai thông tin về họ và tên cá nhân, tên tổ chức là cổ đông sở hữu từ 01% vốn điều lệ trở lên của tổ chức tín dụng và số lượng, tỷ lệ sở hữu cổ phần của cá nhân đó và người có liên quan trên trang thông tin điện tử của tổ chức tín dụng trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày tổ chức tín dụng nhận được thông tin cung cấp.

Về hoạt động đại lý bảo hiểm của tổ chức tín dụng, Luật đã bổ sung quy định về hành vi bị nghiêm cấm tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, người quản lý, người điều hành, nhân viên của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài gắn việc bán sản phẩm bảo hiểm không bắt buộc với việc cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng dưới mọi hình thức.

Đồng thời, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước được giao quy định phạm vi hoạt động đại lý bảo hiểm của tổ chức tín dụng để phù hợp với tính chất và hoạt động của lĩnh vực ngân hàng.

Bổ sung thẩm quyền của Ngân hàng nhà nước tại giai đoạn can thiệp sớm khi ngân hàng bị rút tiền hàng loạtNội dung mới đáng chú ý nữa, luật quy định rõ việc can thiệp sớm và kiểm soát đặc biệt. Theo đó, để đảm bảo có cơ chế ứng phó kịp thời khi phát sinh trường hợp tổ chức tín dụng bị rút tiền hàng loạt có nguy cơ ảnh hưởng, đe dọa an toàn hệ thống, Luật đã sửa đổi, bổ sung thẩm quyền của Ngân hàng Nhà nước tại giai đoạn can thiệp sớm nhằm tăng cường kiểm soát, quản lý nhà nước đối với quản trị, điều hành của tổ chức tín dụng.

Cụ thể, Luật quy định rõ, Ngân hàng Nhà nước xem xét, quyết định thực hiện can thiệp sớm đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài nếu số lỗ lũy kế của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài lớn hơn 15% giá trị của vốn điều lệ, vốn được cấp và quỹ dự trữ ghi trong báo cáo tài chính đã được kiểm toán gần nhất hoặc theo kết luận thanh tra, kiểm toán của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và vi phạm tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu quy định tại điểm b khoản 1 Điều 138 của Luật này.

Bên cạnh đó, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cũng được áp dụng biện pháp can thiệp sớm nếu xếp hạng dưới mức trung bình theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước; vi phạm tỷ lệ khả năng chi trả quy định tại điểm a khoản 1 Điều 138 của Luật này trong thời gian 30 ngày liên tục; vi phạm tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu quy định tại điểm b khoản 1 Điều 138 của Luật này trong thời gian 6 tháng liên tục; hoặc bị rút tiền hàng loạt và có báo cáo gửi Ngân hàng Nhà nước.

Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được can thiệp sớm bị áp dụng một số biện pháp hạn chế gồm: không chia cổ tức, lợi tức, phân phối lợi nhuận sau thuế sau khi trích lập các quỹ, chuyển lợi nhuận về nước; hạn chế chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp, chuyển nhượng tài sản; hạn chế hoạt động kinh doanh không hiệu quả, có rủi ro cao; giảm giới hạn cấp tín dụng, giới hạn góp vốn, mua cổ phần; hạn chế tăng trưởng tín dụng.

Bên cạnh đó là đình chỉ, tạm đình chỉ một hoặc một số hoạt động ngân hàng, hoạt động kinh doanh khác có dấu hiệu vi phạm pháp luật; không bổ sung nội dung hoạt động ngân hàng, hoạt động kinh doanh mới khác, không mở rộng mạng lưới hoạt động; đình chỉ người quản lý, người điều hành có hành vi vi phạm quy định pháp luật hoặc gây rủi ro lớn đến hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; và các biện pháp khác theo thẩm quyền của Ngân hàng Nhà nước.

6 trường hợp ngân hàng bị đưa vào diện kiểm soát đặc biệt gồm: Tổ chức tín dụng được can thiệp sớm không có phương án khắc phục gửi Ngân hàng Nhà nước hoặc không điều chỉnh phương án khắc phục theo yêu cầu bằng văn bản của Ngân hàng Nhà nước; trong thời hạn thực hiện phương án khắc phục, tổ chức tín dụng được can thiệp sớm không có khả năng thực hiện phương án khắc phục; hết thời hạn thực hiện phương án khắc phục mà tổ chức tín dụng không khắc phục được tình trạng cần can thiệp sớm; bị rút tiền hàng loạt và có nguy cơ gây mất an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng; tỷ lệ an toàn vốn của tổ chức tín dụng thấp hơn 4% trong thời gian 6 tháng liên tục; tổ chức tín dụng bị giải thể không có khả năng thanh toán đầy đủ các khoản nợ trong quá trình thanh lý tài sản.

Ngoài ra, Luật cũng có quy định, kể từ ngày tổ chức tín dụng được đặt vào kiểm soát đặc biệt, chủ sở hữu, thành viên góp vốn, cổ đông của tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt phải báo cáo việc sử dụng cổ phần, phần vốn góp; không được chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp; không được sử dụng cổ phần, phần vốn góp để làm tài sản bảo đảm, trừ trường hợp thực hiện theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Bổ sung các quy định điều chỉnh hoạt động cung ứng dịch vụ ngân hàng qua phương thức điện tử: Luật Các tổ chức tín dụng cũng đã sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan, tạo lập hành lang pháp lý cho việc cung ứng dịch vụ ngân hàng qua phương tiện điện tử, thúc đẩy chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng như bổ sung quy định điều chỉnh hoạt động cấp tín dụng bằng phương tiện điện tử tại các quy định về quy định nội bộ, quy định về xét duyệt cấp tín dụng, quy định về lưu trữ hồ sơ tín dụng, quy định về Giao dịch điện tử trong hoạt động ngân hàng; bổ sung quy định về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát và triển khai các sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh mới trong hoạt động ngân hàng; quy định về yêu cầu bảo đảm an toàn giao dịch điện tử trong hoạt động ngân hàng...

Ngoài ra, Luật cũng đã luật hóa một số quy định tại Nghị quyết số 42 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng về nợ xấu, bán nợ xấu và tài sản bảo đảm; Mua, bán khoản nợ xấu có tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai; Kê biên tài sản bảo đảm của bên phải thi hành án...

 

anh-man-hinh-2024-01-22-luc-215422-1705935752.png

Với rất nhiều chính sách mới được điều chỉnh, bổ sung, các chuyên gia cho rằng Luật Đất đai (sửa đổi) vừa được Quốc hội thông qua ngày 18.1.2024, sẽ tác động mạnh mẽ đến hoạt động sản xuất đầu tư kinh doanh của doanh nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản.

Luật Đất đai sửa đổi mới lần này đã thể chế các quan điểm, chủ trương của Nghị quyết số 18 của Trung ương, giải quyết được các vướng mắc, bất cập đã chỉ ra trong quá trình tổng kết thi hành Luật Đất đai năm 2013...

5-1705901328.png

Luật Đất đai (sửa đổisẽ góp phần tích cực thúc đẩy hoạt động đầu tư kinh doanh của doanh nghiệp…

Bỏ quy định về khung giá đất

  Đây là điểm mới quan trọng được luật hóa theo tinh thần Nghị quyết 18 của Ban Chấp hành Trung ương. Chủ trương này được các chuyên gia pháp luật và kinh tế đánh giá là mang tính đột phá quan trọng và kì vọng sẽ bỏ được sự chênh lệch giá trị thực và giá trị ảo, giúp phòng chống tiêu cực tham nhũng và hạn chế giảm mạnh khiếu nại phát sinh từ đất.

Dành một mục riêng về giá đất

 Theo đó Luật quy định cụ thể nguyên tắc, căn cứ, phương pháp định giá đất. Trong đó, việc định giá đất phải bảo đảm phương pháp định giá tuân thủ đúng phương pháp, trình tự, thủ tục định giá đất; bảo đảm trung thực khách quan, công khai, minh bạch. Bảo đảm tính độc lập giữa tổ chức tư vấn, Hội đồng thẩm định bảng giá đất, Hội đồng thẩm định giá đất cụ thể và cơ quan hoặc người có thẩm quyền quyết định giá đất.

Luật cũng quy định cụ thể 4 phương pháp định giá đất bao gồm: Phương pháp so sánh, phương pháp thặng dư, phương pháp thu nhập và phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất. Định giá đất là vấn đề khó, do đó Quốc hội, Chính phủ tiếp thu ý kiến ĐBQH, nghiêm túc nghiên cứu để thiết kế các phương pháp định giá vừa có tính kế thừa, vừa có tính cụ thể hóa thực tiễn, có đổi mới nhưng phải có tính bao quát để có thể áp dụng cho các trường hợp cụ thể, lâu dài. Luật quy định mang tính nguyên tắc, xác định rõ về nội hàm và trường hợp, điều kiện áp dụng từng phương pháp.

Ban hành bảng giá đất hằng năm

 Liên quan đến bảng giá đất (Điều 159), tại kỳ họp bất thường thứ 5, có ý kiến đề nghị quy định bảng giá đất 5 năm 1 lần như luật hiện hành và hằng năm biến động thì điều chỉnh hệ số K. Tuy nhiên theo UBTVQH, đây là nội dung đã được các cơ quan nghiên cứu kỹ lưỡng, trình Quốc hội thảo luận nhiều lần trong quá trình giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật. Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, bảng giá đất được quy định 5 năm một lần và phải điều chỉnh, bổ sung đối với trường hợp có biến động về giá đất thị trường; tuy nhiên, trên thực tế, rất ít trường hợp thực hiện điều chỉnh bảng giá đất trong quá trình áp dụng, dẫn đến bảng giá đất không phản ánh đúng giá đất thực tế trên thị trường.

Do đó Luật qui định ban hành bảng giá đất hằng năm nhằm bảo đảm bám sát diễn biến thực tế thị trường và mở rộng phạm vi áp dụng bảng giá đất. Bên cạnh đó, Luật cũng quy định Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung bảng giá đất để công bố và áp dụng từ ngày 01 tháng 01 của năm tiếp theo hoặc điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung trong năm và giao Chính phủ quy định chi tiết để bảo đảm bảng giá đất sẽ được cập nhật phù hợp với thực tế.

Thể chế hóa Nghị quyết số 18/NQ-TW và trên cơ sở thống nhất giữa các cơ quan, Luật đã quy định ban hành bảng giá đất hằng năm để bảo đảm bám sát diễn biến thực tế thị trường và mở rộng phạm vi áp dụng bảng giá đất. Để bảo đảm chất lượng bảng giá đất, các cơ quan quản lý nhà nước các cấp cần nâng cao hơn nữa năng lực trong quá trình tổ chức thực thi pháp luật, hoàn thành xây dựng cơ sở dữ liệu số và hệ thống thông tin quốc gia về đất đai để trực tiếp phục vụ cho công tác quản lý và sử dụng đất đai, UBTVQH và Chính phủ sẽ chỉ đạo trong quá trình thực hiện Luật.

Tháo gỡ nút thắt về xác định tiền sử dụng đất, tài chính đất đai, giúp các doanh nghiệp nhanh chóng triển khai dự án

Luật mới đã bỏ khung giá đất, tính giá theo nguyên tắc thị trường, sửa đổi này giúp tháo gỡ nút thắt về cách xác định tiền sử dụng đất, giúp các doanh nghiệp nhanh chóng triển khai dự án và gia tăng nguồn cung cho thị trường.

Luật qui định 4 phương pháp định giá đất gồm so sánh (so sánh ba thửa đất tương đồng với nhau), thu nhập (được áp dụng mục đích sử dụng hiện tại với khu đất), thặng dư (áp dụng mục đích sử dụng tương lai với khu đất) và hệ số điều chỉnh giá đất. Cuối cùng là thông tin đầu vào cho định giá đất như kết quả đấu thầu, đấu giá, ký hợp đồng mua bán đất... Chính phủ sẽ đánh giá những nguồn thông tin nào cho đầu vào. Có ít nhất 70 nguồn thông tin để chúng ta ưu tiên xác định giá đất, trong đó gồm các thông tin ký kết hợp đồng, hay từ văn phòng đăng ký đất đai, hay từ thẩm định giá của ngân hàng… Tuy nhiên, nguồn thông tin tốt nhất là cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai để định giá đất. Để làm được vậy, các tổ chức, doanh nghiệp có liên quan phải có trách nhiệm cung cấp thông tin giá cả đất đai đầu vào cho nhà nước để làm dữ liệu thông tin định giá đất.

6-1705901360.png

Luật mới bỏ khung giá đất sẽ giúp tháo gỡ nút thắt về cách xác định tiền sử dụng đất, giúp các doanh nghiệp nhanh chóng triển khai dự án và gia tăng nguồn cung cho thị trường.

Đặc biệt, liên quan đến quy định về các khoản thu tăng thêm từ đất tại Điều 124 như: Tiền sử dụng đất, thuế đất tăng thêm đối với các dự án chậm tiến độ, không đưa đất sử dụng; quy định về thời điểm tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất trường hợp có điều chỉnh quy hoạch. Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, các quy định này gây ra sức ép, buộc các doanh nghiệp phải triển khai dự án để tránh lãng phí đất.

Bên cạnh đó những sửa đổi về thu hồi, bồi thường hỗ trợ tái định cư tại các Điều 78, 108 và 109 theo hướng quy định rõ ràng hơn về cơ chế bối thường, hỗ trợ và thu hồi đất trong các trường hợp: Hỗ trợ gia đình khi thu hồi đất nông nghiệp; thu hồi đất để xây dựng dự án nhà ở thương mại...

Theo các chuyên gia, việc sửa đổi này sẽ giúp hoàn thiện cơ chế nhằm xác định rõ quy trình bồi thường và giải phóng mặt bằng khi triển khai dự án, góp phần tháo gỡ vướng mắc về nguồn cung cho thị trường.

Mở ra nguồn tiếp cận đất đai công bằng, minh bạch

Các quy định về tiếp cận đất đai trong Luật mới đã được điều chỉnh theo hướng công khai, minh bạch thông qua các hình thức đấu giá, đấu thầu…sẽ giảm thiểu tối đa các quan hệ “xin – cho” và mang lại công bằng và bình đẳng cho tất cả các đối tượng. Điều này sẽ góp phần tích cực, tạo ra môi trường cạnh tranh một cách công bằng cho các doanh nghiệp…

 Trong những năm qua, các dự án rất khó tiếp cận đất đai không phải do chúng ta cố tình gây khó mà một số quy định thực sự chưa rõ ràng. Ví dụ: phương thức xác định loại đất, dự án nào được giao đất; dự án nào phải thông qua đấu thầu, đấu giá, cơ chế xác định giá đất đấu thầu ra sao... Luật lần này về cơ bản đặt ra các phương thức đó tương đối tường minh.

Liên quan tới quy định “chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án nhà ở thương mại phải có quyền sử dụng đất ở hoặc “đất ở và đất khác”: Luật mới qui định, trường hợp không phải đất ở mà muốn chuyển thành đất ở thì phải thông qua đấu giá, đấu thầu. Quy định như vậy giải quyết được vấn đề là khi đất nông nghiệp, phi nông nghiệp chuyển thành đất ở sẽ có chênh lệch địa tô do chuyển mục đích sử dụng đất. Khi mang đấu thầu, đấu giá, địa tô đó sẽ được thể hiện thông qua giá trúng đấu thầu. Tính chất thị trường do đó sẽ tăng lên. Điều này góp phần minh bạch trong đất đai, những nhà đầu tư thực sự có năng lực, khả năng đầu tư sẽ nắm được dự án…

Các quy định về tiếp cận đất đai trong Luật mới đã được điều chỉnh theo hướng công khai, minh bạch thông qua các hình thức đấu giá, đấu thầu…sẽ giảm thiểu tối đa các quan hệ “xin – cho” và mang lại công bằng và bình đẳng cho tất cả các đối tượng. Điều này sẽ góp phần tích cực, tạo ra môi trường cạnh tranh một cách công bằng cho các doanh nghiệp…

Đổi mới quy trình, nội dung, phương pháp lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Cụ thể theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, sự tham gia của người dân trong công tác lập quy hoạch sử dụng đất thông qua việc tổ chức lấy ý kiến; bổ sung, hoàn thiện các quy định về việc thực hiện các quyền của người sử dụng đất trong các khu vực quy hoạch, theo đó quy hoạch sử dụng đất đã được công bố mà chưa có kế hoạch sử dụng đất hằng năm cấp huyện thì người sử dụng đất được tiếp tục sử dụng và được thực hiện các quyền của người sử dụng đất.

Phân cấp cho các địa phương trong xác định các chỉ tiêu quy hoạch để các địa phương chủ động phát triển kinh tế - xã hội. Những đổi mới trong các quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất sẽ là nên tảng đưa nguồn lực đất đai làm đầu vào cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao như chủ trương của Đảng và Nhà nước.

Công khai minh bạch trong thu hồi đất

 Đáng chú ý, về thu hồi, bồi thường hỗ trợ tái định cư, Luật đã có nhiều sửa đổi bổ sung các quy định về công khai minh bạch trong thu hồi đất, giải quyết hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người sử dụng đất và nhà đầu tư. Theo đó, Luật đã quy định cụ thể các trường hợp nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng, các dự án mà Nhà nước thu hồi trong trường hợp này phải là các dự án: (1) xây dựng công trình công cộng; (2) xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, công trình sự nghiệp; (3) các trường hợp khác, bao gồm nhiều nhóm tiêu chí như nhà ở, khu sản xuất, phát triển quỹ đất, khoáng sản, công trình ngầm và các trường hợp Nhà nước thu hồi đất để đấu giá, đấu thầu nhằm tăng thu ngân sách…

Với 31 trường hợp cụ thể Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng đã cơ bản bao quát. Bên cạnh đó, Luật cũng đã quy định cụ thể về trình tự, thủ tục thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia công cộng với nhiều điểm mới, bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, minh bạch, kịp thời và đúng quy định của pháp luật.

Mức giá đền bù khi bị thu hồi đất sẽ sát với giá giao dịch trên thị trường

 Đặc biệt, theo qui định của luật mới, những người sở hữu đất đai thuộc diện phải thu hồi, sẽ được hưởng mức giá đền bù sát với giá giao dịch trên thị trường. Điều này nhằm đảm bảo người dân sẽ không bị thiệt. Đây được coi là sự ghi nhận của Nhà nước đối với người dân có đóng góp cho lợi ích chung của địa phương, khu vực và đất nước.

Ngoài ra, liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận. Nếu như trước đây, rất nhiều người dân phải vất vả, thậm chí “đi xin” để được cấp giấy chứng nhận. Thì trong luật mới, trách nhiệm này thuộc về Nhà nước. Theo đó, Nhà nước phải cấp giấy chứng nhận cho người dân thuộc diện được cấp giấy chứng nhận. Thêm vào đó, có nội dung khuyến khích việc nộp tiền sử dụng đất hàng năm thay vì “thu một lần” là một quan điểm mới mẻ, vừa hỗ trợ cho doanh nghiệp, vừa nắn chỉnh nguồn thu theo hướng kích thích thu từ sinh lợi đất đai…

7-1705901248.png

Luật đã quy định cụ thể các trường hợp giao đất phải thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án (ảnh minh hoạ)

Qui định rõ các trường hợp phải thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư

Luật đã quy định cụ thể các trường hợp giao đất không thông qua đấu giá đấu thầu và các trường hợp phải thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án có sử dụng đất, quy định thể các trường hợp cho thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê theo tinh thần của Nghị quyết số 18 của Trung ương.

Quy định cụ thể điều kiện, thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, trong đó phân cấp toàn bộ thẩm quyền chấp thuận việc chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất rừng sản xuất là rừng tự nhiên cho Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.

Quy định rõ hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp trong khu dân cư, đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có đất ở sang đất ở hoặc chuyển mục đích sử dụng các loại đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở thì căn cứ vào quy hoạch sử dụng đất cấp huyện đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt để cho phép chuyển mục đích sử dụng đất mà không căn cứ vào kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện.

Luật sửa đổi mới đã quy định cụ thể các trường hợp giao đất không thông qua đấu giá đấu thầu và các trường hợp phải thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án có sử dụng đất, quy định cụ thể các trường hợp cho thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê theo đúng tinh thần của Nghị quyết số 18 của Trung ương.

Kỳ vọng hồi sinh thị trường bất động sản

Theo chuyên gia kinh tế Nguyễn Minh Phong, Luật Đất đai được thông qua sẽ tạo xung lực tích cực cho vấn đề điều chỉnh và hoàn thiện các luật khác cũng như là làm tăng tính thị trường cho các hoạt động kinh tế xã hội và quản lý Nhà nước. Đặc biệt là góp phần làm ấm và phục hồi nhanh hơn thị trường BĐS trong bối cảnh đang còn trì trệ hiện nay.

Ông Phong cho rằng, luật đã hoàn thiện và thể chế hóa, bao quát được Nghị quyết 18 của Trung ương, bám sát Hiến pháp, cương lĩnh của Đảng, pháp luật hiện hành. Đặc biệt, những nội dung liên quan đến định giá đất, cơ chế thu hồi đất và tạo quỹ đất để phát triển dự án.

Luật cũng sửa đổi một số chính sách - công cụ thuế nhằm góp phần thúc đẩy chuyển dịch đất đai đóng góp cho nguồn thu ngân sách, nguồn thu của Nhà nước, nguồn thu của xã hội sẽ sát thực tế; đồng thời giúp hoàn thiện vấn đề vốn hóa đất đai, vốn hóa quyền sử dụng đất, thúc đẩy thị trường bất động sản…

Cộng đồng doanh nghiệp mong đợi Luật Đất đai (sửa đổi) vừa được thông qua và các luật liên quan như Nhà ở, Kinh doanh bất động sản cùng có hiệu lực sẽ tác động mạnh đến sự phát triển, hồi phục của thị trường bất động sản. Tuy nhiên, các dự án triển khai thủ tục đầu tư từ năm 2022 đến khi các luật này cùng có hiệu lực (2025) thì sẽ chịu tác động lớn do những thay đổi về hành lang pháp lý.

Do đó, doanh nghiệp mong muốn cơ quan chức năng quan tâm vấn đề chuyển tiếp các dự án nằm trong thời kỳ thay đổi giữa luật cũ và luật mới và có hướng dẫn cụ thể cho doanh nghiệp khi thực hiện. Việc ban hành Nghị định hướng dẫn cụ thể, kịp thời cũng rất quan trọng, sẽ giúp cho những khó khăn được khơi thông và thúc đẩy sự hồi phục tích cực của thị trường bất động sản ...

Nhiều chuyên gia kỳ vọng, cùng với Luật Nhà ở (sửa đổi), Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi) vừa được thông qua tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XV và Luật Đất đai (sửa đổi) vừa được thông qua ngay từ đầu năm 2024 sẽ tạo sức mạnh đồng bộ, giúp khơi thông nguồn lực. Luật Đất đai, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Nhà ở là những luật có tác động trọng yếu tới thị trường bất động sản hiện nay. Chính vì vậy mà các nhà đầu tư vẫn đang trông đợi và muốn nắm rõ định hướng điều tiết thị trường khi có khung pháp lý mới.

Hành lang pháp lý liên thông này sẽ mang lại cho các nhà đầu tư một khung pháp lý rõ ràng để có thể triển khai dự án mới một cách trơn tru; giúp quản lý thị trường bất động sản một cách ổn định, minh bạch.

Phân cấp, phân quyền trong thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai

 Thống nhất quản lý theo hướng nâng cao trách nhiệm của địa phương và kiểm tra, giám sát, kiểm soát chặt chẽ của Trung ương; giảm đầu mối, giảm trung gian, gắn với cải cách hành chính, giảm phiền hà, tiêu cực, cụ thể phân cấp trong chuyển mục đích sử dụng đất, trong quyết định giá đất cụ thể, thu hồi đất… giám đấu mối trung gian trong giao đất, cho thuê đất tại khu kinh tế, khu công nghệ cao, cảng hàng không sân bay… Tập trung cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa, minh bạch thủ tục hành để người dân thuận tiện trong quá trình thực hiện thủ tục… Ngoài ra, luật cũng sửa đổi bổ sung một số chính sách đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số…

NAM KIÊN – THÁI DƯƠNG --TC Phap lý

tin cùng chuyên mục

 
  • Sửa Luật để hạn chế tiêu cực trong đấu thầu(17-05-2013)
  • Luật “xa” thực tế vì… phản biện “hình thức”(17-05-2013)
  • Bỏ hình thức di chúc chung của vợ chồng?(17-05-2013)
  • “Khoảng trống” còn lớn trong quy định về người đồng tính(16-05-2013)
  • Bộ TT&TT bị đứng “ngoài cuộc“ trong phạt vi phạm về quảng cáo?(16-05-2013)
  • Lãng phí khó tính hết bằng tiền từ việc xây dựng văn bản(15-05-2013)
  • Thêm cơ hội phục thiện cho người chưa thành niên vi phạm(13-05-2013)
  • Đổi mới Tòa án để đảm bảo quyền tiếp cận công lý(11-05-2013)
  • Quy định về hộ gia đình “làm khó“ người giao dịch dân sự(06-05-2013)
  • Luật chưa phải “cây gậy thần“ ngăn tình trạng mua bán người?(06-05-2013)
  • Mã số công dân: Nhìn từ thành công của châu Âu(04-05-2013)
  • Phụ nữ Việt Nam mơ luật bỏ tù chồng ngoại tình như Hàn Quốc(04-05-2013)
  • Thừa phát lại không được lập vi bằng về bí mật đời tư(03-05-2013)
  • Lỗ hổng pháp luật trong bảo vệ bí mật đời tư(03-05-2013)
  • Người đồng tính chỉ được cưới sau khi xác định lại giới tính?(01-05-2013)
  • Miễn trách nhiệm hình sự thế nào để tránh hàm oan, lọt tội?(30-04-2013)
  • Nguồn “đóng“, Luật hình sự “chạy đuổi“ thực tế(26-04-2013)
  • Kêu oan vì được... miễn tội(24-04-2013)
  • “Nguy hiểm”… quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất?(23-04-2013)
  • “Luật HNGĐ phải tôn trọng và bảo đảm thực hiện quyền con người”(22-04-2013)