Chủ nhật, ngày 23/06/2024 05:23:46 ĐT:(08) 3932 0692 - 3932 1636 - Fax: (08) 3932 5247 Email: hoiluatgiatvpl@gmail.com

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 23/5


Cập nhật: 4h52' ngày 25/05/2024


 

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 23/5.

0:00
 
 
24/05/2024  10:03

Phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 

 Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà ký Quyết định số 442/QĐ-TTg phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Theo đó, Cảng biển TPHCM quy hoạch tiềm năng thành cảng biển đặc biệt.

Quyết định số 422/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung một số nội dung trong Quyết định số 1579/QĐ-TTg ngày 22/9/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Nâng cao năng lực hệ thống cảng biển

Trong đó, Quyết định số 422/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung mục tiêu về năng lực và kết cấu hạ tầng của hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2030 như sau:

- Về năng lực: Đáp ứng nhu cầu xuất nhập khẩu hàng hóa, giao thương giữa các vùng, miền trong cả nước và hàng trung chuyển, quá cảnh cho các nước trong khu vực cũng như nhu cầu vận tải hành khách nội địa và quốc tế. Hệ thống cảng biển đáp ứng thông qua lượng hàng hóa từ 1.249 đến 1.494 triệu tấn (trong đó hàng container từ 46,3 đến 54,3 triệu TEU, chưa bao gồm hàng trung chuyển quốc tế); hành khách từ 17,4 đến 18,8 triệu lượt khách. (Quyết định số 1579/QĐ-TTg ngày 22/9/2021 đặt mục tiêu Hệ thống cảng biển đáp ứng thông qua 1.140 đến 1.423 triệu tấn hàng hóa; 10,1 đến 10,3 triệu lượt khách).

- Về kết cấu hạ tầng: Ưu tiên phát triển các khu bến cảng cửa ngõ quốc tế Lạch Huyện (Hải Phòng), Cái Mép-Thị Vải (Bà Rịa - Vũng Tàu), xây dựng khu bến cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ (cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ-TPHCM). Nghiên cứu cơ chế chính sách phù hợp phát triển từng bước cảng trung chuyển quốc tế tại Vân Phong (Khánh Hòa) để khai thác tiềm năng về điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý. Quy hoạch định hướng phát triển bến cảng Trần Đề (Sóc Trăng) phục vụ đồng bằng sông Cửu Long để có thể triển khai đầu tư khi có đủ điều kiện; các cảng biển quy mô lớn phục vụ phát triển kinh tế-xã hội của cả nước hoặc liên vùng; các bến cảng khách quốc tế gắn với các vùng động lực phát triển du lịch; các bến cảng quy mô lớn phục vụ các khu kinh tế, khu công nghiệp; các bến cảng tại các huyện đảo phục vụ phát triển kinh tế-xã hội gắn với quốc phòng-an ninh và chủ quyền biển đảo.

Đến năm 2050, năng lực hệ thống cảng biển đáp ứng nhu cầu thông qua hàng hóa với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng từ 4,2 đến 4,8%/năm; hành khách tăng trưởng bình quân khoảng từ 1,2 đến 1,3 %/năm.

Sửa đổi quy hoạch các nhóm cảng biển, cảng biển và khu bến cảng

Quyết định số 422/QĐ-TTg cũng sửa đổi, bổ sung quy hoạch các nhóm cảng biển, cảng biển và khu bến cảng như sau.

Nhóm cảng biển số 1 (gồm 05 cảng biển: cảng biển Hải Phòng, cảng biển Quảng Ninh, cảng biển Thái Bình, cảng biển Nam Định và cảng biển Ninh Bình)

Đến năm 2030 hàng hóa thông qua từ 322 đến 384 triệu tấn (hàng container từ 13 đến 16 triệu TEU); hành khách từ 281.000 đến 302.000 lượt khách.

Tầm nhìn đến năm 2050: đáp ứng nhu cầu thông qua hàng hóa với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng từ 5,0 đến 5,3 %/năm; hành khách tăng trưởng bình quân khoảng từ 1,5 đến 1,6%/năm. Hoàn thành đầu tư khu bến cảng Lạch Huyện, Cái Lân và di dời các bến cảng trên sông Cấm phù hợp với quy hoạch phát triển TP. Hải Phòng; đầu tư phát triển các bến cảng tại khu bến Nam Đồ Sơn-Văn Úc, Cẩm Phả, Hải Hà.

Nhóm cảng biển số 2 (gồm 6 cảng biển: cảng biển Thanh Hóa, cảng biển Nghệ An, cảng biển Hà Tĩnh, cảng biển Quảng Bình, cảng biển Quảng Trị và cảng biển Thừa Thiên Huế)

Đến năm 2030 hàng hóa thông qua từ 182 đến 251 triệu tấn (hàng container từ 0,4 đến 0,6 triệu TEU); hành khách từ 374 đến 401 nghìn lượt khách.

Tầm nhìn đến năm 2050: đáp ứng nhu cầu thông qua hàng hóa với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng từ 3,6 đến 4,5%/năm; hành khách tăng trưởng bình quân khoảng từ 0,4 đến 0,5%/năm. Hoàn thiện đầu tư, phát triển cụm cảng Nghi Sơn - Đông Hồi, Vũng Áng và Sơn Dương-Hòn La.

Nhóm cảng biển số 3 (gồm 8 cảng biển: cảng biển Đà Nẵng (gồm khu vực huyện đảo Hoàng Sa), cảng biển Quảng Nam, cảng biển Quảng Ngãi, cảng biển Bình Định, cảng biển Phú Yên, cảng biển Khánh Hòa (gồm khu vực huyện đảo Trường Sa), cảng biển Ninh Thuận và cảng biển Bình Thuận)

Đến năm 2030 hàng hóa thông qua từ 160 đến 187 triệu tấn (hàng container đạt từ 2,5 đến 3,1 triệu TEU, chưa bao gồm hàng trung chuyển quốc tế); hành khách từ 3,4 đến 3,9 triệu lượt khách.

Tầm nhìn đến năm 2050: đáp ứng nhu cầu thông qua hàng hóa với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng từ 4,5 đến 5,5 %/năm; hành khách tăng trưởng bình quân khoảng từ 1,7 đến 1,8%/năm. Hoàn thành đầu tư toàn bộ khu bến cảng Liên Chiểu (Đà Nẵng) và hình thành cảng phục vụ hàng hóa trung chuyển quốc tế tại Vân Phong (Khánh Hòa).

Nhóm cảng biển số 4 (gồm 5 cảng biển: cảng biển TPHCM cảng biển Đồng Nai, cảng biển Bà Rịa-Vũng Tàu, cảng biển Bình Dương và cảng biển Long An)

Đến năm 2030 hàng hóa thông qua từ 500 đến 564 triệu tấn (hàng container từ 29 đến 33 triệu TEU, chưa bao gồm hàng trung chuyển quốc tế); hành khách từ 2,8 đến 3,1 triệu lượt khách.

Tầm nhìn đến năm 2050: đáp ứng nhu cầu thông qua hàng hóa với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng từ 3,5 đến 3,8 %/năm; hành khách tăng trưởng bình quân khoảng từ 0,9 đến 1,0 %/năm. Hoàn thành đầu tư các bến cảng Cái Mép Hạ, tiếp tục đầu tư khu bến cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ TPHCM để hình thành cụm cảng trung chuyển quốc tế quy mô lớn có tầm cỡ khu vực Châu Á và quốc tế tại cửa sông Cái Mép (bao gồm khu bến Cái Mép và Cần Giờ), hoàn thành công tác di dời các bến cảng trên sông Sài Gòn và tiếp tục nghiên cứu di dời các khu bến khác phù hợp với phát triển không gian đô thị TPHCM.

Nhóm cảng biển số 5 (gồm 12 cảng biển: cảng biển Cần Thơ, cảng biển Đồng Tháp, cảng biển Tiền Giang, cảng biển Vĩnh Long, cảng biển Bến Tre, cảng biển An Giang, cảng biển Hậu Giang, cảng biển Sóc Trăng, cảng biển Trà Vinh, cảng biển Cà Mau, cảng biển Bạc Liêu và cảng biển Kiên Giang)

Đến năm 2030 hàng hóa thông qua từ 86 đến 108 triệu tấn (hàng container từ 1,3 đến 1,8 triệu TEU); hành khách từ 10,5 đến 11,2 triệu lượt khách.

Tầm nhìn đến năm 2050: đáp ứng nhu cầu thông qua hàng hóa với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng từ 5,5 đến 6,1%; hành khách tăng trưởng bình quân khoảng từ 1,1 đến 1,25%. Hình thành cảng cửa ngõ khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

Kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà - Tổ trưởng Tổ công tác giúp việc Ban Chỉ đạo để chỉ đạo tiến độ triển khai các công trình, dự án đường sắt đô thị TP. Hà Nội và TPHCM 

 Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 239/TB-VPCP kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà-Tổ trưởng Tổ công tác giúp việc Ban Chỉ đạo để chỉ đạo tiến độ triển khai các công trình, dự án đường sắt đô thị TP. Hà Nội và TPHCM.

Thông báo nêu: Đường sắt đô thị là phương thức vận tải có vai trò rất quan trọng đối với các đô thị lớn, nhất là TP. Hà Nội và TPHCM. Thời gian qua, Bộ Giao thông vận tải và hai thành phố đã tích cực, nỗ lực triển khai đầu tư xây dựng một số tuyến đường sắt đô thị thí điểm, đến nay mới có duy nhất tuyến đường sắt đô thị số 2A Cát Linh-Hà Đông đưa vào khai thác năm 2021, bước đầu đã phát huy được hiệu quả của phương thức này.

Ban Chỉ đạo Nhà nước các công trình, dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành giao thông vận tải đã định kỳ họp, chỉ đạo quyết liệt, giải quyết khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ triển khai các công trình, dự án, trong đó có các công trình, dự án đường sắt đô thị tại TP. Hà Nội và TPHCM, tuy nhiên các tuyến còn lại đều đang bị chậm tiến độ, phải lùi giãn tiến độ nhiều lần, làm tăng tổng mức đầu tư.

Đường sắt đô thị là công trình, dự án quy mô lớn, yêu cầu cao về kỹ thuật, công tác giải phóng mặt bằng rất khó khăn, sử dụng nguồn vốn ODA của các nhà tài trợ yêu cầu nhiều nội dung, thủ tục, do vậy, công việc các dự án cần thiết phải có sự chỉ đạo, phối hợp chặt chẽ giải quyết kịp thời của các bộ, ngành và địa phương; ngoài các tuyến đang triển khai đầu tư, còn 16 tuyến đường sắt đô thị theo quy hoạch của TP. Hà Nội và TPHCM chưa thực hiện. Để hoàn thành mục tiêu theo Kết luận số 49-KL/TW của Bộ Chính trị, khối lượng công việc thực hiện trong giai đoạn tới là rất lớn.

Với vai trò là cơ quan chủ quản, TP. Hà Nội và TPHCM có trách nhiệm chính và chủ yếu trong việc triển khai đầu tư bảo đảm tiến độ, chất lượng, hiệu quả đối với các các dự án đường sắt đô thị. Tổ Công tác thực hiện chức năng chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc triển khai, chỉ đạo, phối hợp giải quyết những vấn đề quan trọng, liên ngành, xử lý khó khăn vướng mắc, tháo gỡ cơ chế (nếu có) trong quá trình triển khai. Các Thành viên Tổ công tác thực hiện tốt chức năng của Tổ công tác và nêu cao tinh thần trách nhiệm trong xử lý, giải quyết các công việc, nhiệm vụ được phân công.

Phấn đấu đưa vào khai thác tuyến đường sắt Nhổn-Ga Hà Nội đoạn trên cao vào cuối tháng 6 năm 2024

Đối với các Dự án đường sắt đô thị tại TP. Hà Nội và TPHCM đang triển khai: Việc sớm hoàn thành, đưa dự án đường sắt đô thị thành phố Hà Nội, đoạn Nhổn-Ga Hà Nội và dự án đường sắt đô thị TPHCM, đoạn Bến Thành-Suối Tiên vào vận hành khai thác, phục vụ nhân dân là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, Phó Thủ tướng yêu cầu UBND TP. Hà Nội chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan khẩn trương hoàn thành các công việc, nội dung, thủ tục như: vận hành thử hệ thống, Báo cáo an toàn hệ thống, Giấy chứng nhận an toàn hệ thống, nghiệm thu phòng cháy chữa cháy, chấp thuận về môi trường, đào tạo nhân sự vận hành và bảo trì, nghiệm thu hoàn thành dự án…), nỗ lực phấn đấu đưa vào khai thác tuyến đường sắt Nhổn - Ga Hà Nội đoạn trên cao vào cuối tháng 6 năm 2024.

Khẩn trương phối hợp với Bộ Tài chính và Nhà tài trợ ADB hoàn thiện các thủ tục để ký sửa đổi Bảng phân bổ vốn vay để giải ngân cho đoạn đi ngầm tuyến Nhổn-Ga Hà Nội trong tháng 5 năm 2024.

UBND TP. Hà Nội phối hợp Bộ Kế hoạch và Đầu tư hoàn thành công tác rà soát hồ sơ theo chỉ đạo của Phó Thủ trướng Trần Lưu Quang tại văn bản số 2526/VPCP-QHQT ngày 16/4/2024 của Văn phòng Chính phủ, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án đường sắt đô thị tuyến Nam Thăng Long-Trần Hưng Đạo trong tháng 6 năm 2024.

Đưa tuyến đường sắt Bến Thành-Suối Tiên vào vào sử dụng tháng 12 năm 2024

UBND TPHCM chỉ đạo, đôn đốc Chủ đầu tư, nhà thầu, cơ quan, đơn vị liên quan chủ động, tích cực giải quyết các tồn tại, vướng mắc (đặc biệt nhà thầu gói thầu CP3 của Dự án đường sắt đô thị tuyến Bến Thành-Suối Tiên), đẩy nhanh hoàn thành thi công các hạng mục còn lại; chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan hoàn thành các công việc, nội dung, thủ tục (chạy thử hệ thống, vận hành thử hệ thống, báo cáo an toàn hệ thống, giấy chứng nhận an toàn hệ thống, nghiệm thu phòng cháy chữa cháy, chấp thuận về môi trường, đào tạo nhân sự vận hành và bảo trì, nghiệm thu hoàn thành dự án…) để bảo đảm đưa vào sử dụng tuyến đường sắt Bến Thành - Suối Tiên vào tháng 12 năm 2024.

Đồng thời, UBND TPHCM rà soát các nguồn vốn và phương án thu xếp, sử dụng vốn vay, sớm làm việc với các Nhà tài trợ để hoàn tất các thủ tục gia hạn Hiệp định vay, lập kế hoạch triển khai hoàn thành tuyến đường sắt đô thị Bến Thành-Tham Lương.

Bộ Giao thông vận tải chỉ đạo Cục Đường sắt Việt Nam chủ trì phối hợp với các vị liên quan phối hợp chặt chẽ với Chủ đầu tư thực hiện công tác đánh giá, chứng nhận an toàn hệ thống theo chức năng, nhiệm vụ; đồng thời, với vai trò là Bộ chuyên ngành tiếp tục phối hợp với UBND TPHCM, các bộ, ngành liên quan để tháo gỡ các tồn tại, vướng mắc liên quan đến các dự án (khi có yêu cầu) để sớm đưa dự án vào vận hành khai thác theo đúng kế hoạch, tiến độ.

Bộ Xây dựng, Hội đồng Kiểm tra Nhà nước về công tác nghiệm thu công trình xây dựng phối hợp chặt chẽ với Chủ đầu tư thực hiện công tác kiểm tra nghiệm thu theo quy định, đảm bảo chất lượng, đáp ứng tiến độ hoàn thành các dự án.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp TP. Hà Nội hoàn thành thủ tục điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án đường sắt đô thị tuyến Nam Thăng Long-Trần Hưng Đạo, báo cáo lãnh đạo Chính phủ trong tháng 5 năm 2024; phối hợp với TPHCM hoàn thành thủ tục điều chỉnh thời gian thực hiện Dự án đường sắt đô thị tuyến Bến Thành-Suối Tiên trong tháng 6 năm 2024 và tổng hợp, tham mưu Chính phủ báo cáo cấp thẩm quyền xem xét, bố trí bổ sung kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025 cho Dự án;

Bộ Tài chính làm việc với Nhà tài trợ ADB hoàn thiện các thủ tục để ký, sửa đổi Bảng phân bổ vốn vay cho Dự án đường sắt đô thị tuyến Nhổn-Ga Hà Nội trong tháng 5 năm 2024; chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp sớm hoàn tất thủ tục cấp ý kiến pháp lý và giới thiệu chữ ký rút vốn theo đề nghị của JICA đối với Thỏa thuận vay số 4 của khoản vay VN22-P1 thuộc Dự án đường sắt đô thị tuyến Bến Thành-Suối Tiên trong tháng 5 năm 2024.

Bộ Công an chỉ đạo Cơ quan PCCC chủ trì phối hợp với Chủ đầu tư để hoàn thiện các thủ tục liên quan đến PCCC đáp ứng tiến độ hoàn thành dự án.

Các thành viên Tổ công tác (Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Ngoại giao) chỉ đạo các cơ quan phối hợp chặt chẽ với các địa phương, hướng dẫn, hoàn thiện các thủ tục liên quan trong quá trình triển khai các dự án.

Lựa chọn công nghệ đường sắt đô thị tiên tiến, hiện đại

Đối với Đề án hệ thống mạng lưới đường sắt đô thị TP. Hà Nội, TPHCM đến năm 2035:

Về nội dung, Phó Thủ tướng yêu cầu UBND TP. Hà Nội, UBND TPHCM tiếp thu đầy đủ ý kiến phát biểu của cơ quan tại cuộc họp, thống nhất các nội dung của Đề án; bám sát quan điểm, mục tiêu, giải pháp tại Kết luận số 49-KL/TW ngày 28/02/2023 của Bộ Chính trị về định hướng phát triển giao thông vận tải đường sắt Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, trong đó lưu ý: (i) lựa chọn công nghệ đường sắt đô thị tiên tiến, hiện đại; (ii) bảo đảm tiếp nhận, làm chủ từ khâu thiết kế, sản xuất, chế tạo đến vận hành, quản lý, gắn với đầu tư, hình thành ngành công nghiệp đường sắt đô thị; (iii) việc phát triển các tuyến đường sắt đô thị phù hợp với chiến lược, quy hoạch ngành quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh, quy hoạch đô thị, bảo đảm hài hoà với các phương thức giao thông trong kết nối hạ tầng; (iv) đánh giá tác động đầy đủ, kỹ lưỡng, tính khả thi, huy động mọi nguồn lực (trung ương, địa phương, đầu tư theo phương thức PPP, …), cân nhắc, đánh giá kỹ việc sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi nước ngoài; (v) khai thác, huy động từ nguồn lực đất đai thông qua phát triển đô thị theo các ga, các tuyến đường sắt đô thị (TOD).

Về hồ sơ Đề án, Phó Thủ tướng yêu cầu UBND TP. Hà Nội, UBND TPHCM khẩn trương hoàn thành Đề án (theo đúng quy định của Quy chế làm việc của Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa XIII và Quy chế làm việc của Chính phủ), xin ý kiến Ban cán sự Đảng UBND Thành phố, Thường trực Thành ủy và gửi Bộ Giao thông vận tải trước ngày 28/5/2024 để rà soát, tổng hợp; Bộ Giao thông vận tải chủ trì, phối hợp lấy ý kiến các thành viên Tổ công tác, các bộ, cơ quan liên quan và tiếp thu giải trình đầy đủ trước khi trình Thường trực Chính phủ theo đúng Quy chế làm việc của Chính phủ.

Tiến độ trình Đề án, Bộ Giao thông vận tải và UBND TP. Hà Nội, UBND TPHCM bảo đảm đúng tiến độ trình theo chỉ đạo của Ban cán sự Đảng Chính phủ tại văn bản số 2702/CV/BCSĐCP ngày 12/3/2024.

Chủ trương đầu tư dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp Phụng Hiệp, TP. Hà Nội

Phó Thủ tướng Lê Minh Khái vừa ký Quyết định số 445/QĐ-TTg về chủ trương đầu tư dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp Phụng Hiệp, TP. Hà Nội.

Theo Quyết định, dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp Phụng Hiệp có tổng vốn đầu tư 2.938 tỷ đồng; quy mô sử dụng đất của dự án là 174,88 ha.

Địa điểm thực hiện dự án tại các xã Tô Hiệu, Nghiêm Xuyên, Thắng Lợi và Dũng Tiến, huyện Thường Tín, TP. Hà Nội.

Thời hạn hoạt động của dự án: 50 năm kể từ ngày dự án được chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư. Tiến độ thực hiện dự án không quá 36 tháng kể từ ngày được Nhà nước giao đất, cho thuê đất.

Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư chịu trách nhiệm về những nội dung được giao thẩm định chủ trương đầu tư dự án và thực hiện quản lý nhà nước về khu công nghiệp theo quy định của Luật Đầu tư và pháp luật có liên quan. Các bộ, ngành có liên quan chịu trách nhiệm về nội dung thẩm định chủ trương đầu tư dự án thuộc chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định của Luật Đầu tư và pháp luật có liên quan.

UBND TP. Hà Nội kiểm tra, giám sát, đảm bảo dự án triển khai phù hợp với vị trí quy hoạch phát triển khu công nghiệp Phụng Hiệp đã được phê duyệt. Không được chuyển phần diện tích quy hoạch phát triển khu công nghiệp Phụng Hiệp còn lại đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt sang mục đích khác khi chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật về quản lý khu công nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Tổ chức lập và phê duyệt quy hoạch phân khu xây dựng khu công nghiệp Phụng Hiệp theo quy định của pháp luật về xây dựng và pháp luật về khu công nghiệp và khu kinh tế, trong đó không tính phần diện tích đất quy hoạch tuyến đường trục Ngọc Hồi-Phú Xuyên và phần diện tích đất của tuyến kênh Phụng Hiệp trong khu vực thực hiện dự án vào cơ cấu sử dụng đất của dự án; có giải pháp xây dựng, kết nối giao thông phù hợp với quy hoạch tuyến đường Ngọc Hồi-Phú Xuyên và đường tỉnh 429, đảm bảo dự án không chồng lấn các quy hoạch khác và tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, đảm bảo lưu thông, không ùn tắc tại các điểm kết nối; xem xét bố trí quỹ đất công nghiệp trong khu công nghiệp Phụng Hiệp cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp thuộc diện ưu tiên, hỗ trợ mặt bằng sản xuất kinh doanh thuê lại đất.

UBND TP. Hà Nội chỉ đạo Ban Quản lý các khu công nghiệp và chế xuất Hà Nội và các cơ quan có liên quan rà soát, đảm bảo khu vực thực hiện dự án không có công trình di sản văn hóa vật thể hoặc ảnh hưởng đến sản phẩm di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn thành phố Hà Nội; phù hợp với yêu cầu bảo vệ, phát huy giá trị của di sản văn hóa và các điều kiện theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa.

Công ty TNHH Hòa Phú Invest (nhà đầu tư) chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp, chính xác, trung thực của nội dung hồ sơ dự án; chỉ được thực hiện dự án sau khi đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của pháp luật; thực hiện các thủ tục về bảo vệ môi trường theo đúng quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và các văn bản hướng dẫn có liên quan. Ưu tiên thu hút đầu tư các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp sạch, đảm bảo phù hợp với định hướng phát triển mới của Thủ đô và định hướng phát triển các ngành công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng.

Thay đổi thành viên Ủy ban quốc gia Đổi mới giáo dục và đào tạo 

 Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà-Phó Chủ tịch Ủy ban quốc gia Đổi mới giáo dục và đào tạo ký Quyết định số 69/QĐ-UBĐMGDĐT ngày 23/5/2024 về việc thay đổi thành viên Ủy ban quốc gia Đổi mới giáo dục và đào tạo giai đoạn 2023 - 2026.

Theo Quyết định trên, đồng chí Vũ Thanh Mai, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương tham gia Ủy viên Ủy ban quốc gia Đổi mới giáo dục và đào tạo giai đoạn 2023-2026 thay đồng chí Lê Hải Bình.

Quyết định có hiệu lực từ ngày 23/5/2024./.

Theo chinhphu.vn